ONE ~Kagayaku Kisetsu e~

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
ONE ~Kagayaku Kisetsu e~
One original game cover.jpg
Bìa visual novel gốc của ONE ~Kagayaku Kisetsu e~.
ONE ~輝く季節へ~
Thể loại Drama, Fantasy, Romance
Bản quyền © Cờ của Nhật Bản Tactics/Nexton
Trò chơi
ONE Logo.gif
Biểu trưng của visual novel ONE.
Phát triển Cờ của Nhật Bản Tactics
Phát hành Tactics (bản gốc trên PC)
KID (PlayStation)
AI System (bản chuyển nhượng trên PC)
Nexton (bản lồng tiếng đầy đủ & Vista comp. trên PC)
NTT DoCoMo & SoftBank Mobile (FOMA)
KDDI (au)
Kịch bản Maeda Jun, Hisaya Naoki
Thiết kế Hinoue Itaru
Soạn nhạc OdiakeS, Orito Shinji
Thể loại Eroge, Visual novel
Đánh giá EOCS: 18+ (PC & điện thoại di động)
  • CERO: Mọi lứa tuổi (PlayStation)
Hệ máy PC, PlayStation, FOMA, au
Phát hành 25 tháng 5, 1998 (bản gốc trên PC)
Tiểu thuyết
Tác giả Tateyama Midori
Nhà xuất bản Cờ của Nhật Bản Movic
Phát hành 31 tháng 8, 19981 tháng 4, 2000
Số tập 4 (danh sách)
OVA
Đạo diễn Morino Yōsei
Kịch bản Nguyên tác: Tactics
Thiết kế nhân vật Hinoue Itaru
Soạn nhạc Soạn nhạc mở đầu: Okazaki Ritsuko
Hãng phim Cờ của Nhật Bản KSS
Phát hành 10 tháng 8, 200124 tháng 5, 2002
Độ dài (mỗi tập) 30 phút
Số tập 4 (danh sách)
OVA
ONE ~True Stories~
Đạo diễn Fukumoto Kan
Kịch bản Nguyên tác: Tactics
Soạn nhạc Soạn nhạc chủ đề: Sakamoto Rei
Hãng phim Cờ của Nhật Bản Cherry Lips
Cấp phép Cờ của Hoa Kỳ Media Blasters
Phát hành 21 tháng 11, 200328 tháng 5, 2004
Độ dài (mỗi tập) 30 phút
Số tập 3 (danh sách)
Tác phẩm liên quan


書.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Nhật. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Nhật Bản.
Chủ đề Anime và Manga

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ (Nhật: ONE ~輝く季節へ~? tạm dịch: ONE ~Cho ngày mùa rạng rỡ~) là một visual novel người lớn do Tactics, một thương hiệu của nhà xuất bản Nexton, phát triển và phát hành vào ngày 26 tháng 5, 1998 chỉ chơi được trên Windows 95 của PC. Hầu hết nhân viên phát triển nên trò chơi này về sau đã sáng lập hãng visual novel Key. Tác phẩm sau đó được chuyển sang chơi trên hệ máy PlayStation, đồng thời tái phát hành trên PC bản lồng tiếng đầy đủ. Một phần tiếp theo dựa trên visual novel gốc ONE mang tên ONE2 ~Eien no Yakusoku~ do BaseSon, một thương hiệu khác của Nexton, sản xuất và ra mắt lần đầu trong tháng 4 năm 2002.

Hai loạt OVA đã được thực hiện dựa theo cốt truyện của ONE. Loạt đầu tiên có cùng tựa đề với phiên bản visual novel gốc là một OVA dành cho mọi lứa tuổi do hãng KSS phát hành từ năm 2001 đến 2002 với bốn tập tất cả. Sê-ri thứ hai, có tựa đề ONE ~True Stories~, mang nhiều yếu tố người lớn và do Cherry Lips ra mắt từ năm 2003 đến 2004 với 3 tập phim. ONE ~True Stories~ sau đó được cấp phép phân phối bằng tiếng Anh bởi Media Blasters. Một số chuyển thể khác bao gồm tiểu thuyết, drama CD và hợp tuyển manga.

Theo một bảng xếp hạng về doanh số thu được của các bishōjo game trên toàn quốc ở Nhật Bản, phiên bản lồng tiếng đầy đủ trên PC của ONE đứng ở vị trí thứ 12 trên 50, và rơi xuống hạng 40 trong hai tuần kế tiếp. Tháng sau, phiên bản này vươn lên đầu bảng trong số 60 tựa game, và được xếp hạng lần nữa ở vị trí 44. Sáu nhân vật nữ chính của ONE đã xuất hiện trong dōjin game Eternal Fighter Zero do Twilight Frontier sản xuất.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Một đoạn hội thoại thường gặp giữa người chơi và nhân vật Mizuka trong visual novel ONE.

ONE chỉ đòi hỏi người chơi tương tác ở một vài đoạn, phần lớn thời gian còn lại là đọc những dòng chữ xuất hiện trên màn hình, thường mô tả đoạn đối thoại giữa các nhân vật khác nhau xen lẫn suy nghĩ nội tâm của nhân vật chính. Sau khi nắm bắt được tình huống thông qua những dòng chữ, người chơi sẽ nhìn thấy một "điểm quyết định" và có từ 2-3 sự lựa chọn được đưa ra. Các "điểm quyết định" này thường thay đổi và xuất hiện không đều đặn, có thể cách nhau ít phút hoặc lâu hơn. Trò chơi sẽ tự động tạm dừng khi người chơi nhìn thấy những điểm này, chờ cho đến khi người chơi đưa ra quyết định, sau đó cốt truyện sẽ tiến triển theo một hướng nhất định[1].

Có sáu mạch truyện chính để người chơi trải nghiệm, mỗi mạch truyện tập trung vào câu chuyện của một nhân vật nữ. Người chơi sẽ phải chơi lại nhiều lần, mỗi lần lại chọn những hướng khác nhau để đạt được những kết thúc tương ứng, từ đó mới nắm bắt được nội dung của toàn bộ visual novel. Một trong những mục đích của phiên bản đầu tiên của ONE là cho phép người chơi nhìn thấy những cảnh người lớn, như việc nhân vật Kōhei và một trong sáu nhân vật nữ chính cùng quan hệ tình dục[1].

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.

Thiết lập[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian xảy ra các sự kiện trong ONE là từ ngày 30 tháng 11, 1998 đến ngày 30 tháng 3 năm 1999, mặc dù mạch truyện của Akane còn kéo dài lâu hơn. Phần chính của cốt truyện lấy bối cảnh trong một trường trung học ở Nhật Bản[1], tuy nhiên trường rất hiếm khi được hiển thị đầy đủ ngoại trừ lớp học của Kōhei, căn tin và một phần nhỏ khu vực xung quanh. Tòa nhà chính của trường gồm có ba tầng, và mọi người có thể lên tầng thượng một cách dễ dàng, mặc dù cánh cửa dẫn đến đó có treo tấm biển "Cấm vào", nhưng nó lại không bao giờ bị khóa. Liền kề với tòa nhà chính là phòng sinh hoạt câu lạc bộ. Ranh giới giữa khuôn viên trường học với khu rừng bên cạnh là một dãy hàng rào. Ngoài khu rừng còn có một công viên với đài phun nước và một thang gác dẫn lên đỉnh đồi. Khác với trường học, khu mua sắm trong thành phố và con đường đến trường bình thường của Kōhei xuất hiện nhiều lần, cả ngôi nhà hai tầng của anh cũng vậy[1].

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trái sang phải:
Hàng trên: Mizuka, Rumi và Misaki;
Hàng dưới: Mio, Mayu và Akane - 6 nhân vật nữ chính của visual novel.

Người chơi sẽ vào vai của Orihara Kōhei, một nam sinh trung học phổ thông có một cuộc sống bình thường. Anh có thói quen thích trêu chọc các cô gái mà mình quan biết, đặc biệt là người bạn thời thơ ấu Nagamori Mizuka, nhưng sâu thẳm trong lòng anh vẫn thường nghĩ những điều tốt đẹp về họ. Mizuka chăm sóc Kōhei rất chu đáo, và luôn lo lắng khi nghĩ đến việc anh đột nhiên có một cô bạn gái. Cô lúc nào cũng thở dài vì phải làm theo các trò đùa vô nghĩa của Kōhei. Kōhei gặp một học sinh mới chuyển trường tên là Nanase Rumi, cô luôn muốn mình trở thành một "true maiden" (thiếu nữ thật sự) và để làm được điều đó, cô cư xử hệt như một thiếu nữ đối với mọi người xung quanh, nhưng lại trở về là chính mình mỗi khi gặp Kōhei, người đã để lại ấn tượng gặp gỡ đầu tiên vô cùng tệ hại. Kōhei làm quen với một cô bạn trầm tĩnh cùng lớp là Satomura Akane, người không mở lòng mình ra với bất cứ ai, và từ chối mọi sự giúp đỡ của Kōhei[1].

Kōhei cũng gặp một nữ sinh khiếm thị lớp trên tên là Misaki Kawana, cô luôn hòa đồng với mọi người và có thể giải bày tâm sự với bất kỳ ai. Kōhei làm quen với Kouzuki Mio, một cô gái câm học lớp dưới luôn mang theo bên mình một quyển sổ tay để để ghi lời nói khi trò chuyện với mọi người. Cô là thành viên của câu lạc bộ kịch nghệ, và mặc dù không thể nói được, cô vẫn thể hiện xuất sắc cảm xúc của mình thông qua nhiều biểu hiện phong phú. Nhân vật nữ chính cuối cùng mà Kōhei từng quen biết chỉ mới học trung học cơ sởShiina Mayu, người có tính khí nóng nảy và không thích đi học. Người bạn duy nhất mà Mayu tin tưởng trong cuộc sống là chú chồn sương Myū, đã chết ngay trước khi cô gặp Kōhei và các nhân vật chính khác[1].

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện xoay quanh cuộc sống của Orihara Kōhei, nhân vật chính trong visual novel, anh cho rằng ở thời điểm nào đó trong cuộc đời mình sẽ một có sự thay đổi lớn làm đảo lộn cuộc sống bình yên hiện tại. Cha mẹ qua đời khi anh con rất bé, và sau cái chết của cô em gái, anh dần thu mình lại và ẩn mình trong Eternal World (Thế giới Vĩnh cữu), một thế giới chỉ tồn tại trong nội tâm của chính mình. Trò chơi chủ yếu tập trung vào thế giới nội tâm này, một không gian huyền bí mà không bao giờ đưa ra lời giải thích rõ ràng, và cả các chi tiết bên trong cũng không được đề cập đến. Lời nhận xét của nhân vật Hikami Shun trong phiên bản gốc của trò chơi dường như là manh mối duy nhất về Eternal World.

Eternal World là nơi tương tự như thế giới bên kia của mỗi chúng ta và mọi người, bằng một cách nào đó, có thể tiếp cận nó một cách dễ dàng, nhưng để trở về thế giới thực thì rất khó. Một "con người khác" của chúng ta đang chờ đợi trong thế giới đó. Nếu tìm được điểm mấu chốt trong thế giới thực, những người trong Eternal World có thể trở về dương gian trong vòng một năm. Khu vực này là phần đất riêng mà bất cứ ai trong Eternal World cũng có thể gặp nhau. Một khi đang ở bên trong Eternal World, người ta có thể sẽ phải nhờ đến sự dẫn đường của một cô gái bằng cách thực hiên một lời hứa với cô ấy trong khoảng thời gian nhất định. Từ hướng dẫn đó, một đại diện của người đi vào vẫn có thể tồn tại trong thế giới thực, nhưng một trong những kí ức của họ về lời hứa với mọi thứ xung quanh trở nên mờ nhạt. Eternal World chỉ có thể đến được một khi người đó đã không còn chỗ đứng ở thế giới thực tại, không còn gì có thể ngăn cản họ đi vào thế giới này. Một người khi sắp đến với Eternal World sẽ bắt đầu bị quên lãng dần đi trong vòng một tuần trước khi biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên, anh ta hoặc cô ta có thể được nhận ra sự tồn tại trở lại khi đã quay về thế giới thực. Khoảng thời gian trước khi một ai đó bị quên lãng hẳn là khác nhau tùy thuộc vào mối quan tâm mà những người khác nghĩ về chính họ trong thế giới thực.

Kōhei đang có một cuộc sống rất bình thương trong bối cảnh là một trường trung học cùng với cô bạn thời thơ ấu là Nagamori Mizuka, cùng với đó là sự góp mặt của năm cô gái khác trong suốt cốt truyện. Anh đã tìm hiểu sâu hơn về nội tâm của từng người và giúp đỡ giải quyết từng vấn đề cá nhân của họ. Mặc dù thích đùa giỡn và trêu chọc những cô gái mình quen biết, nhưng sâu thẳm bên trong lòng anh luôn rất quan tâm và lo lắng cho họ. Theo kịch bản, Kōhei đã tạo mối quan hệ thân thiết với sáu nhân vật nữ chính, đó là: Nagamori Mizuka, Nanase Rumi, Kawana Misaki, Kouzuki Mio, Shiina Mayu và Satomura Akane. Tuy có mối quan hệ bạn bè rất tốt, nhưng những người xung quanh cũng bắt đầu quên mất sự tồn tại của anh khi Kōhei dần tiến sâu hơn vào Eternal World trong tâm trí của chính mình. Quá trình này tiếp diễn đến lúc ngay cả những cô gái mà Kōhei yêu mến cũng quên đi sự có mặt của anh, lúc này anh đã rơi hoàn toàn vào Eternal World, và trong thế giới thực anh ta dường như chưa bao giờ tồn tại. Hy vọng duy nhất lúc này của Kōhei là trước khi rời khỏi phải tạo ra bằng được điểm mấu chốt nối liền anh với thế giới thực và đi theo sự hướng dẫn của người dẫn đường trong Eternal World để trở về thế giới thực.

Hết phần cho biết trước nội dung.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ là tựa game thứ ba của Tatics, sau MOON.Dōsei. Dự án ONE do YET11 đứng đầu, người cũng đóng góp cho phần âm nhạc của trò chơi. Kế hoạch phát triển do Maeda Jun phụ trách, ông là một trong hai nhà biên kịch chính cùng với đồng nghiệp Hisaya Naoki[2]. Chiếc ghế chỉ đạo nghệ thuật được trao cho Hinoue Itaru, bà cũng thực hiện khâu đồ họa vi tính (CG) cùng với Miracle Mikipon và Shinory. Âm nhạc được soạn chủ yếu bởi OdiakeSOrito Shinji[2]. Sau khi hoàn thành ONE, những nhân viên trong nhóm phát triển sản phẩm này, trừ YET11, đã rời khỏi Tactics và sáng lập ra công ty Key.

Lịch phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

ONE được ra mắt lần đầu vào ngày 26 tháng 5, 1998 dưới dạng bản giới hạn và chính thức định dạng DVD, có thể chơi trên máy tính cá nhân (PC)[3]; phiên bản giới hạn còn đính kèm thêm đĩa soundtrack gốc đầu tiên của trò chơi[3]. Cả bản giới hạn lẫn chính thức đều không hỗ trợ lồng tiếng cho các nhân vật. Ngày 1 tháng 4 năm 1999, KID phát hành phiên bản mọi lứa tuổi giới hạn và chính thức có thể chơi trên hệ máy PlayStation (PS) mang tựa Kagayaku Kisetsu e; các nhân vật đã được lồng tiếng đầy đủ trong bản PS[4]. Ngày 14 tháng 9 năm 2000, AI System phát hành ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Memorial Selection[5], cơ bản chính là phiên bản gốc của visual novel, mặc dù giá thành rẻ hơn khoảng một nửa so với giá gốc. Ngày 1 tháng 1 năm 2003, phiên bản lồng tiếng đầy đủ trên PC đã được công ty mẹ Nexton ra mắt[6]. Kōhei đã không được lồng tiếng trong mọi bản phát hành.

Ngày 9 tháng 2 năm 2007, ONE lại được ra mắt trên điện thoại di động FOMA thông qua chương trình Java của NTT DoCoMo[7]. Phiên bản điện thoại di động thứ hai là trên au, phát hành ngày 1 tháng 3 năm 2007 bởi KDDI[8]. SoftBank Mobile tiếp tục cho ra mắt trên FOMA phiên bản điện thoại di động thứ ba của ONE vào ngày 2 tháng 5, 2007. Lần phát hành mới nhất của trò chơi là phiên bản tương thích với Windows Vista trên PC, do Nexton ra mắt vào ngày 1 tháng 6, 2007[9]. Chỉ có phiên bản trên PlayStation là không chứa các cảnh khiêu dâm. Video mở đầu của phiên bản gốc vẫn có thể tải về từ website chính thức của ONE tại Tactics[3].

Phương tiện truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Sách xuất bản[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn quyển tiểu thuyết dựa theo sê-ri đã được viết bởi Tateyama Midori và do Movic xuất bản từ tháng 8 năm 1998 đến tháng 4 năm 2000[10]. Nội dung tiểu thuyết mang nhiều chi tiết tình dục và không thích hợp đối với trẻ em. Mỗi tập sách được viết dựa theo kịch bản của một trong các nhân vật nữ chính trong visual novel; từ tập 1 đến tập 4 lần lượt tập trung vào Mizuka, Akane, Misaki và Rumi. Một cuốn official fan book dày 143 trang, dựa theo MOON.ONE mang tựa Tactics MOON. & ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Creation Image Collection (Nhật: タクティクスMOON.&ONE~輝く季節へ~設定原画集?), đã được nhà xuất bản Compass phát hành trong tháng 10 năm 1998[11]. Aspect cũng cho ra mắt một official fan book dày 95 trang cho phiên bản PlayStation của ONE dưới tựa đề Kagayaku Kisetsu e Visual Fan Book (Nhật: 輝く季節へビジュアルファンブック?) vào tháng 10 năm 1999[12].

Các tập sách[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các tập sách và ấn phẩm của ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ xuất bản tại Nhật:

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ bởi Tateyama Midori

Tactics MOON. & ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Creation Image Collection

Kagayaku Kisetsu e Visual Fan Book

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Compass đã phát hành tuyển tập manga có tựa Tactics Anthology Comic ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Chapter (Nhật: タクティクス アンソロジーコミック ONE~輝く季節へ~編?) vào tháng 5 năm 1999[13]. Movic đã ra mắt hai tập của sê-ri manga ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Comic Anthology (Nhật: ONE~輝く季節へ~コミックアンソロジー?) trong tháng 10 và tháng 12 năm 1999[14][15]. Ohzora cũng phát hành năm tuyển tập manga: ba dòng trong một sê-ri, và hai dòng cuối cùng là hai tập đơn. Loạt truyện chứa ba tuyển tập đầu tiên là ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Anthology Comics (Nhật: ONE~輝く季節へ~―アンソロジーコミックス?), phát hành từ tháng 5 năm 2002 đến tháng 2 năm 2003[16][17]. Tập đơn đầu tiên có tựa ONE ~Kagayaku Kisetsu e Dōjin Selection~ (Nhật: ONE~輝く季節~―同人セレクション?), ra mắt trong tháng 9 năm 2003[18], và tập đơn thứ hai là Hidamari ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ (Nhật: 陽だまりONE~輝く季節へ?), phát hành trong tháng 1 năm 2004[19].

Các tập manga[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách các tập manga ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ xuất bản tại Nhật:

Tactics Anthology Comic ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Chapter

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Comic Anthology

ONE ~Kagayaku Kisetsu e Dōjin Selection~

ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Anthology Comics

Hidamari ONE ~Kagayaku Kisetsu e~

Drama CD và âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ba đĩa drama CD dựa theo phiên bản gốc của trò chơi đã được Movic phát hành từ ngày 6 tháng 11, 1999 đến 30 tháng 1 năm 2000[20]. Hai drama CD khác dựa theo dòng chuyển thể OVA mọi lứa tuổi được ra mắt bởi KSS trong tháng 11 năm 2001 và tháng 7 năm 2002[21][22]. Soundtrack gốc đầu tiên của visual novel ra mắt ngày 6 tháng 12, 1998 và nhạc phẩm kế tiếp phát hành ngày 24 tháng 9, 1999 dưới dạng album hòa tấu piano[23]. Một album hòa âm được đính kèm với phiên bản lồng tiếng đầy đủ trên PC của trò chơi mang tên Sea Roars[6]. Soundtrack của sê-ri OVA mọi lứa tuổi có nhan đề ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Music from the Animation (hay còn có tên khác là ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Vocal Mini album)[24] do KSS phát hành vào ngày 10 tháng 8, 2001[25]. Soundtrack gốc của ONE ~True Stories~ đã được ra mắt bởi ChamberRecords/HOBiRECORDS vào ngày 21 tháng 11, 2003[26].

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

ONE được chuyển thể thành hai sê-ri OVA. Loạt đầu tiên dành cho mọi lứa tuổi có tựa ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ do KSS sản xuất; bốn đĩa DVD đã phát hành ở Nhật từ ngày 10 tháng 8, 2001[27] đến 24 tháng 5, 2002[28]. Loạt phim này có cốt truyện dựa theo bản gốc visual novel ONE nhưng được thiết kế lại với một thiết lập khác. Sê-ri OVA thứ hai, sản xuất bởi Cherry Lips, là một loạt phim người lớn mang tựa đề ONE ~True Stories~. Ba đĩa DVD chỉ chứa nội dung của một tập duy nhất được ra mắt từ ngày 21 tháng 11, 2003[29] đến 28 tháng 5, 2004[30]. ONE ~True Stories~ sau đó được Media Blasters cấp phép để phân phối phiên bản tiếng Anh ở thị trường Bắc Mỹ và ba tập phim đã được ra mắt trong một tập đơn vào ngày 16 tháng 8, 2005[31].

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một bảng xếp hạng về doanh số các tựa bishōjo game thu được trên toàn Nhật Bản, phiên bản ONE ~Kagayaku Kisetsu e~ Memorial Selection trên PC được đánh giá bảy lần khác nhau. Trò chơi xuất phát ở vị trí thứ sáu trong bảng xếp hạng suốt hai tuần đầu tháng 9 năm 2000[32]. Trong hai tuần đầu tháng Giêng năm 2001, Memorial Selection tụt xuống vị trí thứ 30[32], và một tháng sau đó trong hai tuần đầu của tháng 2 năm 2001, xếp hạng 38[33]. Memorial Selection được xếp hạng lại ở vị trí 41 từ cuối tháng 2 đến cuối tháng 3 năm 2001[34], và hai tuần kế tiếp nằm ở vị trí thứ 32[34]. Trò chơi xuất hiện trong danh sách một lần nữa từ ngày 7 tháng 5, 2001 đến 20 tháng 5, 2001, xếp hạng 47[35], và lần cuối cùng là trong hai tuần đầu của tháng 7 năm 2001, tăng lên vị trí thứ 37[36]. Phiên bản lồng tiếng đầy đủ trên PC của ONE mở màn ở vị trí thứ 12 trên 50 trong bảng xếp hạng[37], và tụt xuống hạng 40 trong hai tuần kế tiếp[37]. Trong những tháng sau đó, phiên bản này xếp ở vị trí thứ sau trên 60, và xuất hiện một lần nữa trên bảng xếp hạng ở vị trí thứ 44[38].

Nhà phê bình Chris Beveridge đã nhận xét về loạt OVA người lớn ''ONE ~True Stories~ như sau: «ONE ~True Stories~ là thể loại phù hợp cho người mới đến hay cho các cặp đôi; nó chẳng những chú trọng vào các cảnh sex mà còn vào câu chuyện và các cảm xúc các nhân vật, nếu không nói là hơn thế nữa». Các nhân vật nữ được đánh giá là "quyến rũ", còn cốt truyện thì được mô tả là «hoang đường nhưng là sự hoang đường đáng yêu».

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi phát hành ONE ~Kagayaku Kisetsu e~, phát triển viên YET11 của trò chơi là nhân viên duy nhất ở lại thực hiện các tựa game sau đó của Tactics, chẳng hạn như visual novel Suzu ga Utau Hi, trò chơi thứ tư của công ty ra mắt năm 1999[39]. Toàn bộ các nhân viên sản xuất khác của ONE, cũng như người chị của nó là MOON., đã rời khỏi Tatics và thành lập công ty Key, một thương hiệu của Visual Art's, nơi họ cho ra đời siêu phẩm Kanon vào năm 1999[40]. Chịu ảnh hưởng từ visual novel To Heart của Leaf phát hành năm 1997, những nhân viên phát triển ONE đã áp dụng vào trò chơi một khái niệm mới: mở đầu là những khoảnh khắc lãng mạn nồng ấm xen lẫn hài hước, kế đến là nỗi đau của sự chia cắt và mất mát, cuối cùng là sự tái hợp của những khung bậc cảm xúc; đây gọi là nhánh "crying game" (game khóc) của dòng bishōjo, mà sau này đã giúp tạo ra thể loại Nakigē (Nhật: 泣きゲー?) và phát triển thành một hướng đi mới cho các visual novel đời kế tiếp[41][42]. Sau khi Key ra đời, họ tiếp tục mang khái niệm này đến với các sản phẩm của công ty, điển hình là Kanon, AIRCLANNAD.

Một phần kế tiếp được phát triển dựa theo kịch bản gốc của visual novel ONE mang tựa ONE2 ~Eien no Yakusoku~ (Nhật: ONE2 ~永遠の約束~? tạm dịch: ONE2 ~Lời hứa Vĩnh cữu~) do công ty BaseSon, một thương hiệu khác của Nexton, thực hiện. ONE2 phát hành ngày 26 tháng 4, 2002 và tái bản vào ngày 25 tháng 4, 2003 với phần lồng tiếng được thêm vào[43][44]. ONE2 cũng sử dụng khái niệm Eternal World làm hướng đi chính như ONE. Eternal World trong trò chơi này được giải thích rõ ràng hơn tiền thân của nó, mặc dù hai trò chơi này có kịch bản khác nhau theo mức độ nhất định do các nhà biên kịch của ONE không tham gia sản xuất ONE2.

Các nhân vật trong ONE đã xuất hiện trong một số sản phẩm truyền thông khác không liên quan đến sê-ri. Sáu nhân vật nữ chính trong ONE đã góp mặt trong dōjin game Eternal Fighter Zero của hãng Twilight Frontier[45]. Ngoài ra, nhân vật Nanase Rumi cũng xuất hiện như một nhân vật nền trong một vài tập của sê-ri anime chuyển thể Kanon do Kyoto Animation sản xuất[46][47][48][49]. Hinoue Itaru, chỉ đạo nghệ thuật của ONE (nay đã là nhân viên của Key), đã thêm các hình ảnh từ ONE vào cuốn artbook White Clover: Itaru Hinoue Art Works phát hành năm 2009 của bà[50].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Tactics MOON. & One: Kagayaku Kisetsu e Creation Original Picture Collection (bằng tiếng Nhật). Compass. Tháng 10 năm 1998. ISBN 978-4-8776-3014-0. 
  2. ^ a ă “ONE ~輝く季節へ~ ErogameScape-エロゲー批評空間-” [One: Kagayaku Kisetsu e ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2007. 
  3. ^ a ă â “Tactics最新情報” [Tactics Latest Information] (bằng tiếng Nhật). Tactics. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ “輝く季節へ” [Kagayaku Kisetsu e] (bằng tiếng Nhật). KID. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2007. 
  5. ^ “ONE ~ 輝く季節へ ~ メモリアルセレクション もういちど君に逢いたい” [One: Kagayaku Kisetsu e Memorial Selection I Want to Meet You Again] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  6. ^ a ă “ONE~輝く季節へ~フルボイスバージョン” [One: Kagayaku Kisetsu e Full Voice Version] (bằng tiếng Nhật). Nexton. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  7. ^ “D-Dreamプラチナ館 - メンズ” [D-Dream Platinum House Men's] (bằng tiếng Nhật). D-Dream. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  8. ^ “i-mode & EZweb & Yahoo!ケータイ公式・美少女ゲーム専門ポータルサイト ◆◆ 美少女遊び ◆◆” [i-mode & EZweb & Yahoo! Cell Phone Official Bishōjo Game Expert Internet Portal ◆◆ Bishōjo Play ◆◆] (bằng tiếng Nhật). Galplay. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  9. ^ “ONE ~輝く季節へ~ vista動作確認版” [One: Kagayaku Kisetsu e Vista Action Validation Version] (bằng tiếng Nhật). Comshop. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2007. 
  10. ^ “MOVIC出版課第二編集部Web Site.書籍紹介” [MOVIC Publication Second Editorial Department Web Site.Book Introduction] (bằng tiếng Nhật). Movic. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  11. ^ “タクティクスMOON.&ONE~輝く季節へ~設定原画集 (大型本)” [Tactics MOON. & One: Kagayaku Kisetsu e Creation Image Collection (large book)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ “輝く季節へビジュアルファンブック (ASPECT CUTE) (単行本(ソフトカバー))” [Kagayaku Kisetsu e Visual Fan Book (ASPECT CUTE) (Tankōbon (soft cover))] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  13. ^ “タクティクス アンソロジーコミック ONE~輝く季節へ~編 (単行本)” [Tactics Anthology Comic One: Kagayaku Kisetsu e Chapter (Tankōbon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ “ONE~輝く季節へ~コミックアンソロジー (単行本)” [One: Kagayaku Kisetsu e Comic Anthology (Tankōbon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ “ONE~輝く季節へ~コミックアンソロジー (2) (単行本)” [One: Kagayaku Kisetsu e Comic Anthology (2) (Tankōbon)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ “ONE~輝く季節へ~―アンソロジーコミックス (ミッシィコミックス) (コミック)” [One: Kagayaku Kisetsu e Anthology Comics (Misshii Comics) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  17. ^ “ONE~輝く季節へ~ 3―アンソロジーコミック (ミッシィコミックス ツインハートコミックスシリーズ) (コミック)” [One: Kagayaku Kisetsu e 3 Anthology Comic (Misshii Comics Twin Heart Comics Series) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  18. ^ “ONE~輝く季節~―同人セレクション (ミッシィコミックス ツインハートコミックスシリーズ) (コミック)” [One: Kagayaku Kisetsu e Dōjin Selection (Misshii Comics Twin Heart Comics Series) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  19. ^ “陽だまりONE~輝く季節へ (ミッシィコミックス ツインハートコミックスシリーズ) (コミック)” [Hidamari One: Kagayaku Kisetsu e (Misshii Comics Twin Heart Comics Series) (comic)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  20. ^ “MOVIC出版課第二編集部Web Site.CDのご紹介” [MOVIC Publication Second Editorial Department Web Site.CD Introduction] (bằng tiếng Nhật). Movic. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ “ONE~輝く季節へ~ドラマCD” [One: Kagayaku Kisetsu e Drama CD] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  22. ^ “ONE 輝く季節へ~miniature~” [One: Kagayaku Kisetsu e miniature] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ “MOVIC出版課第二編集部Web Site.CDのご紹介” [MOVIC Publication Second Editorial Department Web Site.CD Introduction] (bằng tiếng Nhật). Movic. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  24. ^ “ONE~輝く季節へ~Vocal Mini album” [One: Kagayaku Kisetsu e Vocal Mini album] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  25. ^ “ONE 輝く季節へ Music from The Animation” [One: Kagayaku Kisetsu e Music from The Animation] (bằng tiếng Nhật). Jbook. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  26. ^ “ONE ~輝く季節へ~ True Stories オリジナルサウンドトラックアルバム” [One: Kagayaku Kisetsu e True Stories Original Soundtrack Album] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2009. 
  27. ^ “ONE~輝く季節へ~ 第一巻 雨の章 茜・詩子 (DVD)” [One: Kagayaku Kisetsu e Volume 1 Rain Chapter Akane/Shiiko (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  28. ^ “ONE~輝く季節へ~ 第4巻 桜の章 瑞佳・繭 (DVD)” [One: Kagayaku Kisetsu e Volume 4 Sakura Chapter Mizuka/Mayu (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  29. ^ “ONE~輝く季節へ~True Stories 1 (DVD)” [One: Kagayaku Kisetsu e True Stories 1 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  30. ^ “ONE~輝く季節へ~True Stories 3 (DVD)” [One: Kagayaku Kisetsu e True Stories 3 (DVD)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009. 
  31. ^ Beveridge, Chris (21 tháng 10 năm 2005). “One: True Stories” (bằng tiếng Anh). Mania. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2009. 
  32. ^ a ă “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 1 and 30” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  33. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 38” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  34. ^ a ă “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 41” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  35. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 47” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2008. 
  36. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 37” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  37. ^ a ă “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 12 and 40” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  38. ^ “PC News national ranking for bishōjo games; One ranks 60 and 44” (bằng tiếng Nhật). Peakspub. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2007. 
  39. ^ “鈴がうたう日 ~a story of Angelic Girl, arrived the SunnyField.~ ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Suzu ga Utau Hi ~a story of Angelic Girl, arrived the SunnyField.~ ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. 
  40. ^ “Kanon ErogameScape-エロゲー批評空間-” [Kanon ErogameScape - Eroge Commentary Room -] (bằng tiếng Nhật). ErogameScape. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2009. 
  41. ^ Todome Satoshi. “A History of Adult Games, chapter 3”. kyo-kan.net (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  42. ^ “A History of Eroge: Chapter Three - “Crying games” hit the standard” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  43. ^ “ONE2 ~永遠の約束~” [One2: Eien no Yakusoku] (bằng tiếng Nhật). BaseSon. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2007. 
  44. ^ “ONE2 with VOICE” (bằng tiếng Nhật). BaseSon. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2007. 
  45. ^ Twilight Frontier. Eternal Fighter Zero. (Twilight Frontier). PC. (bằng tiếng Nhật).
  46. ^ "The Lieder ohne Worte Between the Elder and the Younger Sister". Kyoto Animation. Kanon. TBS. 25 tháng 1 năm 2007.
  47. ^ "The Disappearing Adagio". Kyoto Animation. Kanon. TBS. 1 tháng 2 năm 2007.
  48. ^ "The Contact Étude". Kyoto Animation. Kanon. TBS. 8 tháng 2 năm 2007.
  49. ^ "The Ronde Without You". Kyoto Animation. Kanon. TBS. 22 tháng 2 năm 2007.
  50. ^ White Clover: Itaru Hinoue Art Works. Visual Art's. 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]