Sơn Nam (trấn)

Sơn Nam là một địa danh cũ chỉ vùng đất phía nam Thăng Long từ thời nhà Lê sơ đến nhà Nguyễn. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, bản đồ Việt Nam có 13 xứ (sau từ triều Tây Sơn đổi sang gọi là trấn). Đến đây, các vùng đất quanh Hà Nội trở thành tứ trấn gồm: vùng núi phía tây được gọi là trấn Sơn Tây (hay Xứ Đoài), vùng núi phía nam Hà Nội được gọi là trấn Sơn Nam, vùng ven biển phía đông được gọi là trấn Hải Đông (hay xứ Đông), vùng phía bắc Hà Nội được gọi là trấn Kinh Bắc.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Thủ phủ
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1469, thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, thừa tuyên Thiên Trường được đổi tên là thừa tuyên Sơn Nam rồi thành trấn Sơn Nam.[1] Thủ phủ đầu tiên của trấn Sơn Nam được đóng tại Vân Sàng (phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) lúc đó làm phên dậu che chắn cho quê hương Lam Sơn nhà Lê. Khoảng thế kỷ XVII thì thủ phủ Sơn Nam chuyển đến Phố Hiến (Hưng Yên) và đến thời Tây Sơn thì Sơn Nam được tách thành Thanh Hoa Ngoại với thủ phủ tại Vân Sàng (Hoa Lư, Ninh Bình); Sơn Nam Thượng với thủ phủ ở Câu Cầu (Phủ Lý, Ninh Bình); Sơn Nam Hạ với thủ phủ được chuyển về Vị Hoàng (Nam Định, Ninh Bình).
Đến thời Minh Mạng, với việc thành lập các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình trên phần đất của trấn Sơn Nam thượng và trấn Nam Định (trước đó là trấn Sơn Nam hạ) thì tên gọi địa danh Sơn Nam hoàn toàn biến mất.
Ranh giới
[sửa | sửa mã nguồn]Trấn Sơn Nam bao gồm 11 phủ, trong đó tất cả có 42 huyện:
- Phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Nội) quản lĩnh 3 huyện: Thanh Đàm (Thanh Trì) , Thường Tín và Phú Xuyên.
- Phủ Ứng Thiên (nay thuộc Hà Nội) quản lĩnh 4 huyện: Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh và Hoài An.
- Phủ Lý Nhân (nay là tỉnh Ninh Bình) quản lĩnh 5 huyện cũ: Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm và Bình Lục.
- Phủ Khoái Châu (nay thuộc Hưng Yên) quản lĩnh 5 huyện: Đông An, Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Thi và Phù Dung.
- Phủ Thiên Trường (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) quản lĩnh 4 huyện: Nam Chân, Giao Thủy, Mỹ Lộc và Thượng Nguyên.
- Phủ Nghĩa Hưng (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) quản lĩnh 4 huyện: Đại An, Vọng Doanh, Thiên Bản và Ý Yên.
- Phủ Thái Bình (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) quản lĩnh 4 huyện: Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi và Đông Quan.
- Phủ Tân Hưng (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) quản lĩnh 4 huyện: Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê và Thanh Lan.
- Phủ Kiến Xương (nay thuộc tỉnh Hưng Yên) quản lĩnh 3 huyện: Thư Trì, Vũ Tiên và Chân Định.
- Phủ Trường An (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) quản lĩnh 3 huyện: Gia Viễn, Yên Mô và Yên Khang.
- Phủ Thiên Quan quản lĩnh 3 huyện: Phụng Hóa (nay thuộc tỉnh Ninh Bình), An Hóa và Lạc Thổ (nay thuộc tỉnh Phú Thọ).
Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), nhà Hậu Lê chia trấn Sơn Nam làm ba lộ: Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ và Thanh Hoa ngoại (gồm hai phủ là: Thiên Quan, Trường Yên, thuộc trấn Sơn Nam cũ, sau này là phần đất thuộc tỉnh Ninh Bình).
Thời Tây Sơn, đổi lộ thành trấn, xứ Sơn Nam được chia ra Sơn Nam hạ, Sơn Nam thượng.
Đến đầu triều nhà Nguyễn cơ bản đất Sơn Nam cũ gồm:
- Địa bàn các tỉnh Hưng Yên, và một phần Ninh Bình (phủ Lý Nhân thời xưa) và phần lớn các xã phía nam Hà Nội (các phủ Thường Tín, phủ Ứng Thiên thời xưa) ngày nay thuộc Sơn Nam Thượng.
- Địa bàn phần lớn tỉnh Ninh Bình ngày nay (gồm các huyện mới khai khẩn ven biển như: Kim Sơn,...) thuộc Sơn Nam Hạ.
Ranh giới giữa Sơn Nam Hạ và Sơn Nam Thượng là con sông Luộc (bên tả ngạn sông Hồng), và có lẽ là sông Lý Nhân (bên hữu ngạn sông Hồng).
Đến thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1822), trấn Sơn Nam hạ đổi tên thành trấn Nam Định, còn trấn Sơn Nam thượng được gọi là Sơn Nam (như vậy cái tên gọi trấn Sơn Nam được dùng hai lần: trấn Sơn Nam ở triều Hậu Lê khác với trấn Sơn Nam đầu triều Nguyễn, thời sau nhỏ bé hơn nhiều thời trước). Năm 1831 ÷ 1832, thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, thành lập các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình trên cơ sở các trấn Nam Định, Sơn Nam thượng cũ và thành Thăng Long cũ. Lúc này trấn Nam Định được đổi thành ra tỉnh Nam Định (bao gồm cả hai tỉnh Nam Định và Thái Bình, trừ huyện Hưng Hà Thái Bình và phần phía Tây huyện Đông Hưng Thái Bình ngày nay thuộc tỉnh Hưng Yên lúc đó). Đến năm 1890, thời vua Thành Thái, trên đất Sơn Nam xưa và Thăng Long cũ, thành lập thêm các tỉnh: Hà Nam (phủ Lý Nhân), Thái Bình (tách từ Nam Định và có nhập thêm một phần, ở phía Nam sông Luộc, của tỉnh Hưng Yên), Cầu Đơ (sau đổi là Hà Đông bao gồm cả: Thường Tín và Ứng Hòa của trấn Sơn Nam xưa).
Năm 1965, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định nhập hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Nam Hà. Đến năm 1975, tỉnh Nam Hà lại nhập với tỉnh Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, tỉnh này tồn tại tới năm năm 1991 thì lại được tách thành: Nam Hà và Ninh Bình, năm 1996 chia tỉnh Nam Hà thành hai và từ đây có đủ 3 tỉnh riêng rẽ: Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình đến năm 2025 thì 3 tỉnh hợp nhất thành tỉnh Ninh Bình.
Văn hóa Sơn Nam
[sửa | sửa mã nguồn]Danh nhân
[sửa | sửa mã nguồn]- Nhân vật lịch sử: Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Dương Vân Nga.
- Chính trị gia: Nguyễn Trực, Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện, Nguyễn Chính Lâu, Bùi Bằng Đoàn, Dương Lâm, Dương Khuê, Nguyễn Thượng Hiền, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Trần Đăng Ninh, Nguyễn Văn Linh, Trần Đại Quang, Phạm Vũ Luận.
- Danh sĩ: Trương Hán Siêu, Lương Thế Vinh, Văn Cao, Nam Cao, Nguyễn Khuyến, Lê Quý Đôn, Ninh Tốn, Vũ Duy Thanh.
- Nhân vật huyền thoại: Liễu Hạnh, Cô Đôi Thượng Ngàn, Thần Thiên Tôn, Chử Đồng Tử.
Văn học
[sửa | sửa mã nguồn]Ca ngợi vùng đất Đại Hoàng (Ninh Bình) nơi sinh ra Vua Đinh Tiên Hoàng và thánh Nguyễn Minh Không:
- Đại Hữu sinh Vương - Điềm Dương sinh Thánh
Ca ngợi tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam với hai nhân vật Trần Hưng Đạo và thánh Liễu Hạnh:
- Tháng tám giỗ cha - tháng ba giỗ mẹ
Thành ngữ dân gian nói về sự vắng vẻ thường ví với chùa Bà Đanh ở Ninh Bình:
- Vắng như chùa Bà Đanh
Xứ Sơn Nam là cái nôi hát Chèo ở Việt Nam với kinh đô Hoa Lư là đất tổ và người khai sáng là bà Phạm Thị Trân. Nhắc đến chèo, phải kể tới chèo làng Khuốc.[2] Đây là dòng chèo đặc trưng của địa phương đã đi vào thơ ca:
- Hỡi cô thắt dải lưng xanh
- Có xem chèo Khuốc với anh thì về
Làng chèo nổi tiếng như làng Đặng Xá đã được ca ngợi trong thơ ca Nguyễn Bính:
- Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
- Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
- Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
- Mẹ bảo: "Thôn Đoài hát tối nay
Kiến trúc cầu xứ Nam
[sửa | sửa mã nguồn]Khi nhắc đến đặc trưng kiến trúc của từng vùng, dân gian Việt Nam có câu: "Cầu Nam - Chùa Bắc - Đình Đoài" . Câu tục ngữ nói trên được hình thành từ quan niệm về các tiểu vùng văn hóa khu vực châu thổ sông Hồng mà theo cách gọi nôm na của người Việt xưa là "xứ". Lấy Thăng Long là trung tâm văn hóa, khu vực đồng bằng miền Bắc Việt Nam lần lượt chia ra các xứ Nam, Bắc, Đông và Đoài. Cầu Nam vốn nói về kiến trúc cầu đá xứ Sơn Nam xưa (chủ yếu là vùng Ninh Bình) vốn là vùng chiêm trũng, nhiều sông ngòi và hay lụt lội. Ứng phó với thiên nhiên khí hậu vùng này thì người dân bản địa cũng đã sớm hoàn thiện kĩ thuật xây cầu của mình. Cầu Nam rất tiêu biểu và đa dạng ở tất cả các loại: cầu đá, cầu ngói, cầu lim, cầu tre, cầu tõm, cầu phao...
Hiện nay, nhiều cây cầu cổ của xứ Nam được xếp hạng di tích như: Cầu ngói Phát Diệm, cầu ngói Sào Long, cầu ngói chợ Thượng, cầu ngói chợ Lương, cầu Đông Hoa Lư; cầu Lim Ninh Bình,...
Nghệ thuật
[sửa | sửa mã nguồn]Xứ Sơn Nam là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca, dân vũ Bắc Bộ, tiêu biểu như: hát chèo, hát xẩm, hát văn, ca trù, dân ca Hà Nam, hát dậm Quyển Sơn, Trống quân,...
Nghệ thuật chèo xứ Nam: Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam với trọng tâm là vùng đồng bằng sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo được hình thành từ thế kỷ 10, tại Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), tồn tại trong cung đình đến thế kỷ 15 thì được trả hoàn toàn về với người dân.
Không gian nghệ thuật chèo đồng bằng sông Hồng chia ra làm 4 chiếng chèo Đông - Đoài - Nam - Bắc. Chiếng Chèo là những phường Chèo hoạt động trong một vùng văn hóa, địa lý nhất định. Mỗi chiếng có những "ngón nghề" riêng, kỹ thuật riêng, khó lưu truyền và phát triển ra đến bên ngoài do sự khác nhau trong phong cách nghệ thuật dựa trên cơ sở dân ca, dân vũ và văn hóa địa phương, chỉ người trong chiếng mới diễn được với nhau.
Chiếng chèo Nam gồm tỉnh Ninh Bình và một phần khu vực nam Hà Nội, phía tây nam Hưng Yên. Chèo xứ Nam có những làn điệu đặc trưng như: Chèo quế hay điệu hạ vị tả cảnh du thuyền thăm các thắng cảnh ở Ninh Bình, Bà chúa con cua gắn với tín ngưỡng chầu văn Nam Định, Nhịp đuổi gắn với tích trấn thủ Lưu Đồn ở Thái Bình hay các làn điệu độc đáo xứ Nam như Đò đưa, Đường trường thu không, Đường trường tải lương, Tình thư hạ vị,...
Các di tích và danh thắng
[sửa | sửa mã nguồn]Vùng văn hóa Sơn Nam cùng với xứ Đông là hai vùng giáp biển, do đó có nét văn hóa tương đồng và phân biệt với hai vùng văn hóa Kinh Bắc và xứ Đoài. Ngày nay, trong vùng có quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận là di sản thế giới và khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Trong vùng có các di tích quốc gia đặc biệt nổi tiếng như: Chùa Keo, Đền Trần-Chùa Phổ Minh, Cố đô Hoa Lư, Thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Núi Non Nước, Chùa Thái Lạc, KDT Phố Hiến, chùa Long Đọi Sơn, Khu du lịch Tam Chúc, Đền Trần TB, Đền Trần Thương, đền Xám.
Các lễ hội nổi tiếng như lễ hội chùa Keo, lễ hội Phủ Dày, lễ hội đền Tiên La, lễ hội đền Đồng Bằng, lễ hội chùa Bái Đính, các lễ hội khai ấn đền Trần ở Hưng Yên và Ninh Bình, lễ hội cố đô Hoa Lư, lê hội đền Đồng Xâm, lễ hội đền Côn Giang...
Vùng văn hóa Sơn Nam có nhiều di tích và danh thắng nổi tiếng: Cố đô Hoa Lư, rừng Cúc Phương, Tam Cốc - Bích Động, nhà thờ Phát Diệm, Tràng An, Đan viện Châu Sơn, đền Trần, phủ Dầy, vườn quốc gia Xuân Thủy, chùa Keo, cung Long Hưng, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, đền Đồng Xâm, đình An Cố, đình Phất Lộc, đình Thanh Giám, chùa Ký Con, chùa Đồng Đại, chùa Lai Vi, đền Côn Giang, đền Hét, đền Lưu Phương, chùa Hương, Phố Hiến, chùa Long Đọi, Tam Chúc- Ba Sao, chùa Địa Tạng Phi Lai, chùa Phật Quang, chùa Ninh Tảo, chùa Tế Xuyên, chùa Bầu, chùa Vọng Tiên, nhà thờ Sở Kiện, Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn...
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Việt sử thông giám cương mục tập 11 trang 47
- ^ "Chiếng chèo làng Khuốc". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- Tài liệu Địa chí Thái Bình, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình, do Nguyễn Quang Ân và Nguyễn Thanh chủ biên, 2007.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Nam Định Portal: Vùng đất Nam Định từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (Phần I) Lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2015 tại Wayback Machine
- Tên gọi Hưng Yên qua các thời kỳ lịch sử Lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2009 tại Wayback Machine
- Trấn Sơn Nam địa linh nhân kiệt