Sugihara Chiune

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sugihara Chiune
A photographic portrait of Chiune Sugihara.
Sugihara Chiune
Tên gốc 杉原 千畝
Sinh 1 tháng 1, 1900(1900-01-01)
Yaotsu, Gifu, Nhật Bản
Mất 31 tháng 7, 1986 (86 tuổi)
Kamakura, Kanagawa, Nhật Bản
Quốc gia Nhật Bản
Tên khác "Sempo", Pavlo Sergeivich Sugihara
Công việc Phó Lãnh sự Đế quốc Nhật Bản tại Litva
Nổi tiếng vì Cứu sống vài hàng nghìn người Do Thái khỏi nản thảm sát
Tôn giáo Chính Thống giáo Đông phương
Vợ (hoặc chồng) Klaudia Semionova Apollonova (k.hôn  1919–1935) «start: (1919)–1935 (1935-end+1:)»"Hôn nhân: Klaudia Semionova Apollonova đến Sugihara Chiune" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Sugihara_Chiune)
Yukiko Kikuchi (k.hôn  1935–1986) «start: (1935)–1986 (1986-end+1:)»"Hôn nhân: Yukiko Kikuchi đến Sugihara Chiune" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Sugihara_Chiune)
Giải thưởng Righteous Among the Nations (1985)

Sugihara Chiune (杉原 千畝 Sam Nguyên Thiên Mẫu?, 1/1/1900 – 31/7/1986) là một nhà ngoại giao người Nhật từng là Phó Lãnh sự Đế quốc Nhật Bản tại Litva. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã giúp hàng nghìn người Do Thái rời khỏi Litva bằng cách cấp cho hộ thị thực quá cảnh vào Nhật. Phần lớn người Do Thái này là cư dân Litva và những người tị nạn từ Ba Lan khi đó đã bị Đức chiếm đóng. Sugihara đã cấp thị thực du lịch cho hơn 5.000 [1] người tị nạn Do Thái đến lãnh thổ Nhật Bản, đánh liều sự nghiệp của ông cũng như cuộc sống của gia đình ông. Sugihara đã bảo những người tị nạn gọi ông là "Sampo", theo cách đọc Hán-Nhật các ký tự trong họ của ông vì ông nhận thấy như thế sẽ dễ dàng hơn cho người phương Tây phát âm[2]. Năm 1985, Israel vinh danh ông với giải thưởng Righteous Among the Nations.

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Sugihara Chiune sinh ngày 1 tháng 1 năm 1900, tại Yaotsu, một khu vực hẻo lánh thuộc tỉnh Gifu, vùng Chubu. Cha ông là Sugihara Yoshimi (杉原好水) thuộc tầng lớp trung lưu và mẹ ông là Sugihara Yatsu (杉原やつ). Ông là con trai thứ hai trong số năm con trai và một con gái trong gia đình.[3]

Năm 1912, ông tốt nghiệp với bằng danh dự hàng đầu từ trường tiểu học Furuwatari, và vào trường Daigo Chugaku do tỉnh Aichi mở ra. Cha của ông muốn ông theo nghiệp mình trở thành một nhà vật lý, nhưng Chiune cố tình trượt kỳ thi đầu vào bằng cách chỉ viết mỗi tên của mình vào bài kiểm tra. Thay vào đó ông vào đại học Waseda năm 1918, chuyên ngành tiếng Anh. Tại thời điểm đó ông cũng gia nhập nhóm tín hữu Ki-tô giáo Yuai Gakusha do mục sư báp-tít Harry Baxter Benninhof thành lập. Năm 1919, ông giành được học bổng của bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyển dụng ông và điều ông đến Cáp Nhĩ Tân, Trung Quốc, tại đây ông học tiếng Ngatiếng Đức rồi sau đó trở thành một chuyên gia về nước Nga.

Văn phòng ngoại giao Mãn Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Sugihara làm việc cho Văn phòng ngoại giao Mãn Châu, ông đã tham gia điều đình với Liên Xô về tuyến đường sắt Đông Trung Quốc. Ông đã xin thôi chức vụ Phó Ngoại trưởng tại Mãn Châu để phản đối sự ngược đãi của Nhật Bản dành cho người Trung Quốc bản xứ. Tại Cáp Nhĩ Tân, ông cải đạo sang Cơ đốc Chính thống, lấy tên đạo là "Pavlo Sergeivich Sugihara"[4] và cưới một người phụ nữ Nga tên là Klaudia Semionova Apollonova. Họ ly hôn năm 1935. Sau đó ông trở lại Nhật Bản, cưới Kikuchi Yukiko (1913–2008), sau khi thành thân bà có tên là Sugihara Yukiko (杉原幸子). Họ có với nhau bốn người con trai (Hiroki, Chiaki, Haruki, Nobuki). Đến năm 2012, Chiaki là người con duy nhất của họ còn sống[5]. Sugihara Chiune cũng từng làm việc ở Cục thông tin của Bộ Ngoại giao và làm thông dịch viên cho công sứ Nhật Bản tại Helsinki, Phần Lan.[2]

Litva[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa lãnh sự cũ của Nhật Bản tại Kaunas.

Năm 1939, Sugihara trở thành lãnh sự phó của Lãnh sự quán Nhật Bản tại Kaunas, Litva. Nhiệm vụ khác của ông là báo cáo về hoạt động chuyển quân của Liên Xô và Đức.[3]

Giúp đỡ người Do Thái tại Litva[sửa | sửa mã nguồn]

Chiune Sugihara được mệnh danh là Schindler của Nhật Bản, vì cách hành xử nhân đạo của ông trong quá trình giúp đỡ người Do Thái thoát khỏi sự diệt chủng của Phát Xít Đức tại Litva.

Khi trận oanh tạc chớp nhoáng của Hitler nổ ra ở Ba Lan năm 1939, hàng ngàng người dân tị nạn đã chạy trốn sang nước láng giềng Lithuania. Nhưng đó chỉ là nơi ẩn náu tạm thời. Mùa hè năm 1940, trước sự kiện Liên Xô chiếm giữ Lithuania và chính quyền Quốc xã hành quân đến, thì tính mạng của họ càng bị đe dọa hơn.

Khó khăn mà người tị nạn gặp phải là cần có giấy thông hành, nhưng không Chính phủ nào cấp cho họ. Một nhà ngoại giao người Hà Lan lập kế hoạch bí mật đưa họ sang Liên Xô và Nhật. Nhưng kế hoạch này phụ thuộc vào việc họ có được thị thực quá cảnh của Nhật hay không.[6]

Trong thời khắc tăm tối đó Chiune Sugihara đã xuất hiện, lúc đó ông đang là nguyên Tổng lãnh sự Nhật tại Kaunas, Lithuania.[7] Ông đã cấp thị thực thông hành cho người tị nạn Ba Lan cho dù họ có giấy tờ hợp pháp hay không. Tokyo đã triệu hồi ông về nước. Tuy nhiên ở ga xe lửa, ông vẫn tiếp tục phát những thị thực sống còn đó cho người dân qua cửa sổ tàu hỏa

Sự cố gắn của ông đã cứu sống 5000 người Do Thái[1] từ cuộc tàn sát lịch sử đó, và ông phải trả giá bằng chính công việc của mình ở Bộ Ngoại giao.

Những câu nói nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khi được hỏi tại sao ông lại chấp nhận đánh đổi sự nghiệp của mình như vậy? Ông trả lời: "Họ là con người, và họ cần được giúp đỡ. Tôi vui mừng khi thấy mình có sức mạnh để giúp đỡ họ".
  • "Ngay cả một người thợ săn cũng không nỡ giết một con chim khi nó bay đến bên anh ta để tìm nơi ẩn náu" (Câu nói của Samurai Maxim thường được Chiune Sugihara trích dẫn).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Chiune Sugihara - Schindler của Nhật, tr 176, 177 - The greatest stories never told 100 tales from history to astonish, bewilder, and stupefy, Rick Beyer
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên isbn0-9649674-0-5
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Tenembaum
  4. ^ Keeler S (2008). “A Hidden Life: A Short Introduction to Chiune Sugihara”. pravmir.com. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2011. 
  5. ^ (tiếng Pháp) Anne Frank au Pays du Manga - Diaporama: Le Fils du Juste, Arte, 2012
  6. ^ Japanese Diplomats and Jewish Refugees - Pamela Rotner Sakamato
  7. ^ In Search of sugihara - Hillel Levine