Trần Đề

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trần Đề

Huyện
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhSóc Trăng
Huyện lỵthị trấn Trần Đề
Trụ sở UBNDthị trấn Trần Đề
Phân chia hành chính2 thị trấn, 9 xã
Thành lập2009
Địa lý
Diện tích377,98 km²
Dân số (2016)
Tổng cộng134.409 người
Thành thị29.719 người
Nông thôn104.690 người
Mật độ356 người/km²
Dân tộcKinh, Hoa, Khmer
Khác
Biển số xe83-P1-P2-P3-P4
Websitewww.trande.soctrang.gov.vn

Trần Đề là huyện ven biển của tỉnh Sóc Trăng, nằm ở cuối dòng sông Hậu của miền Nam Việt Nam, nằm trên trục giao thông Quốc lộ Nam sông Hậu mới mở nối liền thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, với tỉnh Bạc Liêu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 260 km.

Nguồn gốc tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi chính quyền Chúa Nguyễn chính thức tiếp quản vùng đất này, năm 1739, từ Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ khai thác tiến về phía sông Hậu, lập thêm bốn đạo, đặt tên là Long Xuyên, Kiên Giang, Trấn Giang và Trấn Di. Trong đó, Trấn Di thuộc đất Bassac, nguyên chữ Hán là 鎮夷. Do các sách in thời Nguyễn sắp chữ in nhầm thành 塡荑, vừa đọc là trấn di vừa đọc là trần đề (cùng mặt chữ nhưng 2 cách đọc khác nhau). Khi người Pháp đến Việt Nam ghi âm theo cách đọc của mình, trại ra thành Tranh Đề hay Trần Đề[1].

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích Trần Đề rộng 378,7598 km². Tuy nhiên, đây là một huyện ven biển, phần lớn diện tích đất bị nhiễm mặn, với độ cao 1,0 – 1,2 m so với mặt nước biển, cao hơn trung bình của tỉnh Sóc Trăng. Có hệ thống rừng phòng hộ ven biển và một phần nhỏ đất giồng cát thích hợp với việc trồng màu. Huyện thường xuyên đối mặt với tình trạng khô hạn, thiếu nước ngọt vào mùa khô.

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn huyện Trần Đề có hai sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, đổ ra biển qua cửa Trần Đề và Mỹ Thanh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1953-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1953, quận Lịch Hội Thượng được thành lập do tách đất từ quận Long Phú, trở thành một trong 5 quận của tỉnh Sóc Trăng (gồm Châu Thành, Kế Sách, Long Phú, Lịch Hội Thượng và Thạnh Trị). Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt quận Lịch Hội Thượng thuộc tỉnh Ba Xuyên. Năm 1957, quận Lịch Hội Thượng có 8 xã, quận lỵ đặt tại xã Lịch Hội Thượng, gồm 2 tổng: Định Chí, Định Phước.

Ngày 13 tháng 1 năm 1958, quận Lịch Hội Thượng bị bãi bỏ, các xã được chia về các quận khác của tỉnh Ba Xuyên. Ngày 11 tháng 12 năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập quận Lịch Hội Thượng thuộc tỉnh Ba Xuyên.

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1956, chính quyền Cách mạng vẫn đặt huyện Long Phú thuộc tỉnh Sóc Trăng. Tháng 8 năm 1966, chính quyền Cách mạng chia huyện Long Phú thành hai huyện: Long Phú và Lịch Hội Thượng cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã giải thể huyện Lịch Hội Thượng, sáp nhập trở lại vào huyện Long Phú và huyện Mỹ Xuyên cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Cần Thơthành phố Cần Thơ để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Hậu Giang. Lúc này, huyện Long Phú và huyện Mỹ Xuyên cùng thuộc tỉnh Hậu Giang.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Huyện Long Phú và huyện Mỹ Xuyên cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng cho đến ngày nay.

Trước năm 2009, vùng đất của huyện Trần Đề ngày nay là một phần của các huyện Long Phú và Mỹ Xuyên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2009, Chính phủ Việt Nam điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú và huyện Mỹ Xuyên để thành lập huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng như sau:[2]

  • Thành lập thị trấn Lịch Hội Thượng thuộc huyện Long Phú trên cơ sở điều chỉnh 2.078,80 ha diện tích tự nhiên và 13.231 nhân khẩu của xã Lịch Hội Thượng. Thị trấn Lịch Hội Thượng có 2.078,80 ha diện tích tự nhiên và 13.231 nhân khẩu.
  • Thành lập thị trấn Trần Đề thuộc huyện Long Phú trên cơ sở điều chỉnh 1.163,03 ha diện tích tự nhiên và 11.915 nhân khẩu của xã Trung Bình; 719,60 ha diện tích tự nhiên và 2.220 nhân khẩu của xã Đại Ân 2. Thị trấn Trần Đề có 1.882,63 ha diện tích tự nhiên và 14.135 nhân khẩu.
  • Thành lập huyện Trần Đề thuộc tỉnh Sóc Trăng trên cơ sở điều chỉnh 18.978,39 ha diện tích tự nhiên và 75.046 nhân khẩu của huyện Long Phú; 18.897,59 ha diện tích tự nhiên và 55.031 nhân khẩu của huyện Mỹ Xuyên.

Huyện Trần Đề có 37.875,98 ha diện tích tự nhiên và 130.077 nhân khẩu; có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Lịch Hội Thượng, Trung Bình, Đại Ân 2, Liêu Tú, Thạnh Thới An, Thạnh Thới Thuận, Tài Văn, Viên An, Viên Bình và các thị trấn: Lịch Hội Thượng, Trần Đề.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trần Đề có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn: Trần Đề (huyện lỵ), Lịch Hội Thượng và 9 xã: Đại Ân 2, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú, Tài Văn, Thạnh Thới An, Thạnh Thới Thuận, Trung Bình, Viên An, Viên Bình.

STT Đơn vị (xã, thị trấn)Diện tích (ha) Dân số (người)
01Đại Ân 2 2.837,38 11.556
02Lịch Hội Thượng2.828,40 7.671
03Liêu Tú5.054,18 13.667
04Tài Văn4.100,97 15.873
05Thạnh Thới An 5.046,65 11.633
06Thạnh Thới Thuận 3.767,69 9.827
07Trung Bình 4.296,79 14.443
08Viên An2.703,66 10.209
09Viên Bình3.273,85 9.953
10 Thị trấn Lịch Hội Thượng2.079,00 14.747
11 Thị trấn Trần Đề 1.882,63 15.013

Huyện lỵ của huyện Trần Đề từ khi thành lập đặt tại thị trấn Lịch Hội Thượng, từ ngày 30-9-2015 di dời về thị trấn Trần Đề cách thành phố Sóc Trăng 34 km. Trần Đề là huyện duy nhất trong tỉnh Sóc Trăng có huyện lỵ không đặt tại trung tâm kinh tế lớn nhất của huyện. Các trung tâm kinh tế gồm có:

  • Thị trấn Trần Đề là trung tâm hành chính, công nghiệp, du lịch.
  • Thị trấn Lịch Hội Thượng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự, là đầu mối lưu chuyển hàng hóa.

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù là huyện mới thành lập nhưng cơ sở hạ tầng của Trần Đê ̀dần được cải thiện. Hệ thống cơ quan nhà nước tương đối hoàn chỉnh. Đường bộ và hệ thống đèn chiếu sáng trong các thị trấn được đầu tư nâng cấp, các thiết chế văn hóa có nhiều tiến bộ.

Hệ thống chợ: Có các chợ quy mô lớn như:

  • Chợ thị trấn Lịch Hội Thượng
  • Chợ Kinh Ba (thị trấn Trần Đề)
  • Chợ Trung Bình
  • Chợ Ngan Rô (Đại Ân 2)

Hệ thống Ngân hàng:

- Phòng giao dịch Ngân hàng Vietinbank Trần Đề: đường Quốc lộ Nam Sông Hậu, ấp Đầu Giồng, Trần Đề, Sóc Trăng

- Phòng giao dịch Ngân hàng Vietcombank Trần Đề: đường Quốc lộ Nam Sông Hậu, ấp Đầu Giồng, Trần Đề, Sóc Trăng

- Phòng giao dịch Ngân hàng HDbank Trần Đề: đường Quốc lộ Nam Sông Hậu, ấp Đầu Giồng, Trần Đề, Sóc Trăng

- Phòng giao dịch Ngân hàng BIDV: Số 19 Hai Bà Trưng, Thị trấn Lịch Hội Thượng, Trần Đề, Sóc Trăng

- Phòng giao dịch Ngân hàng LienVietPostBank: Hai Bà Trưng, Thị trấn Lịch Hội Thượng, Trần Đề, Sóc Trăng

- Quỹ tín dụng Lịch Hội Thượng: Hai Bà Trưng, Thị trấn Lịch Hội Thượng, Trần Đề, Sóc Trăng

- Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp Agribank Trần Đề: đưởng Tỉnh 934, ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng

- Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Trần Đề: đưởng Tỉnh 934, ấp Chợ, xã Trung Bình, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng

Quy hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tương lai theo quy hoạch thị trấn Trần Đề sẽ được nâng cấp lên đô thị loại IV. Cùng với đó thị trấn Lịch Hội Thượng sẽ được nâng cấp mở rộng theo hướng đô thị loại IV, xã Tài Văn, Đaị Ân 2 đặt tiêu chí đô thị loại V sẽ tạo tiền cho việc thành lập thị xã Trần Đề sau này.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Đề có 130.077 người (theo kết quả điều tra ngày 01/01/2010) bao gồm các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa trong đó người Khmer chiếm 48% người Kinh chiếm 47%, và người Hoa 4% và một số dân tộc khác chiếm 1%.

Những địa danh, di tích nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Giồng Chát: Nơi có bia Tưởng niệm Chứng tích chiến tranh ghi dấu ấn cuộc thảm sát hơn 300 mạng người của đế quốc Mỹ.
  2. Cầu Mỹ Thanh 2: Là cây cầu dài nhất hiện có của tỉnh Sóc Trăng (dài khoảng 650 m).
  3. Cánh đồng Năn: Là vùng đất huyền thoại về sự đổi đời, cũng như sự chinh phục những vùng đất ngập mặn.
  4. Bãi biển Mỏ Ó: Nổi tiếng là bãi biển đẹp của Sóc Trăng vào những thập niên 90 của thế kỉ trước.
  5. Cảng cá Trần Đề: Là ngư cảng đông vui và nhộn nhịp của tỉnh Sóc Trăng.
  6. Sóc Mồ Côi: Nổi tiếng là vùng đất hoang vu và bí hiểm gần như cách biệt với thế giới bên ngoài.
  7. Rừng ngập mặn: Là khu rừng phòng hộ lớn của tỉnh Sóc Trăng, nổi tiếng với hệ sinh thái đa dạng.
  8. Lăng Ông: Là nơi hằng năm diễn ra lễ hội cúng Nghinh Ông mang đậm nét văn hóa dân gian.

Văn hóa, lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Có nền văn hóa ba dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa với những nét đặc trưng rất hấp dẫn.

Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức vào ngày 21 - 03 âm lịch hằng năm.

Di tích, chùa chiền[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chùa ông Bổn người Hoa
  • Chùa Phật (chùa Hội Phước) người Kinh
  • Hưng Hội Tự (chùa Phước Thiện)
  • Lăng Ông (thị trấn Trần Đề)
  • Nhà thờ Bãi Giá (xã Trung Bình)
  • Đình thần Thạnh Thới An
  • Chùa Pô thi pruc (còn gọi là chùa Dơi, Thị trấn Lịch Hội Thượng)
  • Và nhiều ngôi chùa khác, nhiều nhất là chùa Nam tông Khmer.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Trung học cơ sở thị trấn Lịch Hội Thượng
  2. Trung học cơ sở Lịch Hội Thượng
  3. Trung học cơ sở Trung Bình
  4. Trung học cơ sở Đại Ân 2
  5. Trung học cơ sở Tài Văn
  6. Trung học cơ sở Liêu Tú 1
  7. Trung học cơ sở Liêu Tú 2
  8. Trung học cơ sở Viên Bình
  9. Trung học cơ sở Viên An
  10. Trung học cơ sở Thạnh Thới Thuận
  11. Trung học cơ sở Thạnh Thới An
  12. Trung học cơ sở Dân tộc nội trú Trần Đề
  13. Trung học cơ sở - phổ thông Trần Đề
  14. Trung học phổ thông Lịch Hội Thượng
  15. Trung tâm dạy nghề huyện Trần Đề

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trần Đề có 06 tuyến đường giao thông đối ngoại quan trọng bao gồm 01 tuyến Quốc lộ, 05 tuyến đường tỉnh, đường thủy và đường biển

  • Quốc lộ 91C (Nam Sông Hậu) nối từ Cần Thơ qua Trần Đề đi Bạc Liêu;
  • Đường tỉnh 934 (Sóc Trăng – thị trấn Lịch Hội Thượng - thị trấn Trần Đề) chạy qua huyện Trần Đề nối vào Quốc lộ 91C;
  • Đường tỉnh 934B (Sóc Trăng – thị trấn Lịch Hội Thượng - Trần Đề) nối vào đường quốc lộ 91C (Nam sông Hậu) và khu công nghiệp Trần Đề;
  • Đường tỉnh 935 (Sóc Trăng - Tài Văn - cầu Mỹ Thanh 1 - Vĩnh Châu);
  • Đường tỉnh 936B (cầu Mỹ Thanh 2 - cầu Mỹ Thanh 1) cặp theo sông Mỹ Thanh nối vào Quốc lộ 91C;
  • Đường tỉnh 933C (Nối từ thị trấn Long Phú đến thị trấn Lịch Hội Thượng - Khu du lịch Mỏ Ó).
  • Đường thủy: Kênh Tiếp Nhựt, Rạch Gòi, sông Mỹ Thanh, sông Hậu.
  • Tàu cao tốc Trần Đề - Côn Đảo (cảng Trần Đề - Cảng Bến Đầm), đang có dự án mở rộng

Các dự án lớn đang triển khai trên địa bàn huyện[sửa | sửa mã nguồn]

- Dự án đường đê bao ngăn nặn và an ninh quốc phòng, ứng cứu tàu thuyền ven biển (đường Mạc Đĩnh Chi nối thị trấn Trần Đề - tỉnh lộ 934B) Khởi công ngày 27/09/2014.

- Dự án Khu thương mại Kinh tế biển Trần Đề. Đã khởi công năm 2018 (đang thi công hạ tầng kỹ thuật).

- Dự án mở rộng Khu công nghiệp Trần Đề rộng 120ha.

- Dự án Khu dân cư thương mại TT Lịch Hội Thượng (rộng 30ha)

- Dự án Đường Lê Lợi nối dài TT Lịch Hội Thượng.

- Dự án bờ kè cặp Sông Gòi (TT Lịch Hội Thượng)

- Dự án nhà máy điện gió huyện Trần Đề.

- Dự án khu du lịch sinh thái Mỏ Ó (rộng 200 ha)

- Dự án Trường Dân tộc nội trú huyện Trần Đề (Đã hoàn thành tại TT Lịch Hội Thượng.)

- Dự án nâng cấp mở rộng Cảng cá Trần Đề giai đoạn 2.

- Dự án Bệnh viện đa khoa huyện Trần Đề. (Đã hoàn thành 2018, hoạt động vào ngày 22/02/2019.)

- Dự án Bến cá Mỏ Ó (đã hoàn thành 2018).

- Dự án Cảng nước sâu Trần Đề; điều chỉnh quy hoạch cảng biển Trần Đề - Sóc Trăng trong hệ thống cảng biển quốc gia là cảng biển đặc biệt (loại IA) với tổng số vốn đầu tư 4,1 tỷ USD được phân kỳ đầu tư theo các giai đoạn, có thể đón được tàu trọng tải 200.000 tấn (Bộ GTVT đang nghiên cứu đề xuất Thủ tướng Chính phủ).

Hình ảnh Sóc Trăng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ PGS.TS Lê Trung Hoa, "Những địa danh Việt Nam bị thay đổi và sai lệch"
  2. ^ Nghị quyết số 64/NQ-CP, ngày 23 tháng 12 năm 2009.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]