Tuyên Từ hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tuyên Từ hoàng thái hậu
宣慈皇太后
Hoàng thái hậu Đại Việt
Tại vị 1308 - 1314
Tiền nhiệm Khâm Từ Bảo Thánh hoàng thái hậu
Kế nhiệm Bảo Từ Thuận Thánh hoàng thái hậu
Thông tin chung
Phu quân Trần Nhân Tông
Hậu duệ Không rõ, rất có thể là Trần Quốc Chẩn
Tước hiệu Hoàng thái hậu
Thái hoàng thái hậu
Thụy hiệu Tuyên Từ hoàng hậu (宣慈皇后)
Hoàng tộc Nhà Trần
Thân phụ Trần Hưng Đạo
Mất 14 tháng 9, 1318
Thăng Long
An táng Quy Đức lăng

Tuyên Từ hoàng thái hậu (chữ Hán: 宣慈皇太后, ? - 14 tháng 9, 1318), là hoàng hậu thứ hai của Trần Nhân Tông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu như không có nhiều thông tin về bà. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bà là em gái của Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu, con gái thứ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Theo vai vế, bà là dì của Trần Anh Tông. Do không được ghi một cách chính thức nếu so với Khâm Từ hoàng hậu, rất có thể bà có vai vế thấp hơn, là con vợ thứ sinh ra, tuy nhiên vẫn chưa có đủ tài liệu khẳng định việc này.

Sau khi Bảo Thánh hoàng hậu qua đời (1293), bà được quyền quản lý mọi việc trong Hậu cung. Sách ĐVSKTT ghi nhận, "Bấy giờ, Tuyên Từ thái hậu từ khi Khâm Từ băng, phải quản việc trong cung, tính người khó khăn nóng nảy, dạy bảo rất nghiêm, mà vua vâng theo rất kính cẩn" [1].

Năm Hưng Long thứ 16 (1308), Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà.

Năm Hưng Long thứ 22 (1314), Anh Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Mạnh kế nghiệp, tức Trần Minh Tông. Theo lý thuyết, bà là tổ mẫu (trên danh nghĩa) của Minh Tông, nên có lẽ tôn làm Thái hoàng thái hậu. Anh Tông khi ấy từng hỏi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật chuyện này[2] và tấn phong, tuy nhiên việc này chép sau khi Tuyên Từ Thái hậu băng, và rất có thể việc tấn tôn là truy tặng, như trường hợp Anh Tông đã làm khi lập Minh Tông làm Thái tử (1309), đã tấn tôn mẹ ruột Khâm Từ Thái hậu làm Thái hoàng thái hậu[3].

Năm Mậu Ngọ thứ 5 (1318), ngày 19 tháng 8, bà mất. Mùa đông năm ấy, bà được an táng ở bên cạnh lăng của Nhân Tông.

Theo ĐVSKTT: Trước đây, Nhân Tông từng dặn lại Anh Tông ngày sau phải đem dì (tức là Tuyên Từ Thái hậu) táng ở cạnh lăng và vẽ bản đồ chôn cất thành huyệt hình thước thợ trao lại. Đến đây, Thượng hoàng theo di mệnh, đào cạnh lăng để chôn. Đất lăng nhiều bùn lầy, tiếng đào đắp vang động cả khu lăng. Thượng hoàng có vẻ lo. Trước đây, khi sắp chôn Thái hậu [vào đấy], các quan tâu rằng không nên làm kinh động lăng tẩm. Thượng hoàng nói: "Tiên đế có lệnh, ta không dám trái. Nếu có tổn hại gì, ta sẽ chịu cả".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyên văn ĐVSKTT bản chữ Hán - kỷ Trần Anh Tông:時宣慈太后自欽慈 崩後主中饋性峭𦂳教誨頗嚴而帝承順惟謹; Thời, Tuyên Từ Thái hậu tự Khâm Từ băng hậu, chủ trung quỹ tính tiễu khẩn giáo hối pha nghiêm, nhi Đế thừa thuận duy cẩn.
  2. ^ Nguyên văn ĐVSKTT bản chữ Hán - kỷ Trần Hiến Tông: 英宗欲尊宣慈皇太后為太皇太后未知所以家尊; Anh Tông dục tôn Tuyên Từ hoàng thái hậu vi Thái hoàng thái hậu vị tri sở dĩ gia tôn.
  3. ^ Nguyên văn ĐVSKTT bản chữ Hán - kỷ Trần Anh Tông: 󰀋東宫太子奣為皇太子追尊欽慈保聖太后為太皇太后; Sách Đông cung thái tử Mạnh vi Hoàng thái tử, truy tôn Khâm Từ Bảo Thánh Thái Hậu vi Thái hoàng thái hậu.