America's Next Top Model

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
America's Next Top Model
Antmlogo2.jpg
Định dạng Thực tế
Sáng lập Tyra Banks
Diễn viên Tyra Banks
Giám khảo Tyra Banks
Nigel Barker (2-18)
André Leon Talley (14-17)[1]Kelly Cutrone (18-nay)
J. Alexander (5–13)[2]
Paulina Porizkova (10–12)[3]
Twiggy (5–9)
Janice Dickinson (1–4)
Nolé Marin (3–4)
Eric Nicholson (2)
Kimora Lee Simmons (1)[2][4]
Beau Quillian (1)
Hòa âm, phối khí David Thomas & Les Pierce
Quốc gia Hoa Kỳ
Số mùa 18
Số tập 228
Sản xuất
Thời lượng 59 phút
Công ty sản xuất 10 by 10 Entertainment
Bankable Productions
Nhà phân phối Pottle Productions (Hoa Kỳ)
CBS Television Distribution (Quốc tế)
Trình chiếu
Kênh trình chiếu UPN (2003–2006)
The CW (2006–nay)
Định dạng hình ảnh 480i (4:3 SDTV)
Phát sóng 20 tháng 5, 2003 (2003-05-20) – nay
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

America's Next Top Model (thường được gọi tắt là ANTM; tên Tiếng Việt là Siêu Mẫu Mỹ; tạm dịch: Người mẫu Hàng đầu Tiếp theo của nước Mỹ) là chương trình truyền hình thực tế dành cho phụ nữ và các bạn gái trẻ. Trong chương trình này các bạn gái sẽ tranh tài với nhau để giành được cơ hội trờ thành Người mẫu đỉnh cao Mỹ và bước chân vào ngành công nghiệp người mẫu.

Người sáng lập và dẫn chương trình nổi tiếng là cựu siêu mẫu Tyra Banks, cũng là giám khảo chính và nhà sản xuất cho tất cả các mùa thi từ đầu đến giờ. Mùa thi đầu tiên lên sóng chính thức vào tháng 05, 2003 và đã trở thành một trong những chương trình truyền hình ăn khách nhất của hệ thống truyền hình cáp UPN. Mùa thi thứ bảy của chương trình này là mùa thi đầu tiên phát trên kênh The CW, sau khi hệ thống cáp UPN sát nhập vào hệ thống cáp Warner Brothers. Nhạc hiệu của chương trình cũng do chính Tyra Banks hát. Tyra cũng là đồng sản xuất chung trình với Ken Mok và Anthony Dominici.[5][6]

Tại Việt Nam, chương trình được phát sóng trên kênh HTV2 của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí MinhChannel V của hệ thống cáp STAR TV.

Định dạng chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi mùa thi của chương trình America’s Next Top Model có khoảng 10-14 cô gái tham gia ghi hình trong 9-13 tập phim. Ở mỗi tập phim, có một cô gái sẽ bị loại cho đến khi tìm ra được ba người tài năng nhất; tuy nhiên vẫn có trường hợp ngoại lệ. Có rất ít trường hợp các thí sinh không bị loại, hoặc hai thí sinh cùng bị loại trong một tập (loại kép). Các trường hợp hiếm gặp này là do hội đồng giám khảo nhất trí quyết định dựa trên nhiều tiêu chí, mà quan trọng nhất là thái độ và tiềm năng của các thí sinh. Chương trình là nơi cho các cô gái "lột xác" để bước chân vào thế giới người mẫu đầy kiêu hãnh. Các cô gái sẽ được các chuyên gia có uy tín trong ngành thời trang hướng dẫn cách thu hút trước ống kính và trước đám đông. Tuỳ vào mùa thi (thường thì vào khoảng 2-3 tập đầu) các cô gái sẽ được thay đổi vẻ ngoài sao cho giống một người mẫu đích thực.

Địa điểm thi không bó buộc ở nước Mỹ, mà còn được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Đây là điểm hấp dẫn riêng biệt so với các chương trình đào tạo người mẫu khác trên thế giới. Mỗi mùa thi gắn bó với một đất nước, một vẻ đẹp gắn liền với một nền văn hoá mới không chỉ giúp các cô gái mà còn giúp khán giả mở mang tầm hiểu biết. Như ở mùa thi 7 tổ chức ghi hình tại Tây Ban Nha, các cô gái được học Flamenco quyến rũ, hay mùa 8 được đến Australia để biến mình thành "thổ dân", mùa 9Vạn lý trường thành, mùa thi 10 thì làm chiến binh ở đấu trường Colosseum. Các thí sinh chỉ bay ra nước ngoài khi đã trải qua 2/3 tiến trình thi, có nghĩa là chỉ còn 5-6 thí sinh.

Nội dung từng tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi tập phim America’s Next Top Model gồm nhiều hoạt động diễn ra trong suốt một tuần (nếu quay ở nước ngoài thì chỉ 3-4 ngày) như: tham gia các thử thách, chụp ảnh hoặc quay phim quảng cáo, các cô gái nghe những lời phê bình từ hội đồng giám khảo, và cuối cùng cũng là phần quan trọng nhất: Tyra thông báo người bị loại khỏi cuộc đua giành danh hiệu Người mẫu đỉnh cao Mỹ. Ban giám khảo hiện thời của chương trình gồm: Huấn luyện viên sàn diễn Miss J (J. Alexander), nhiếp ảnh gia thời trang danh tiếng Nigel Barker và siêu mẫu huyền thoại Séc, Paulina Porizkova – người thay thế cho Twiggy, như Twiggy đã từng thay thế cho siêu mẫu Janice Dickinson. Một gương mặt không nằm trong hội đồng giám khảo nhưng lại hết sức quan trọng là đạo diễn nghệ thuật Jay Manuel (Mr. Jay), Jay gửi đánh giá về thái độ làm việc của các thí sinh đến hội đồng giám khảo để từ đó họ có quyết định đúng đắn và sáng suốt nhất. Ngoài ra, nhiều tập còn có các giám khảo khách mời.

Mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Mở đầu một tập, các thí sinh sẽ được huấn luyện theo chủ đề riêng của từng tuần. Ví dụ, các cô gái sẽ học bước đi trên sân khấu, học cách trả lời phỏng vấn hoặc ứng biến khi gặp câu hỏi khó, học cách thể hiện cảm xúc, học cách gợi cảm, học diễn xuất, trang điểm hợp tông với trang phục đang mặc... Sau khi học xong, các thí sinh sẽ thực hành và tham gia thử thách của tập phim đó. Người thực hiện thành công và áp dụng tốt nhất những gì đã học sẽ chiến thắng thử thách. Giải thưởng được nhận sẽ phụ thuộc vào thử thách. Có nhiều loại giải thưởng, nhưng đa số là rất có giá trị vật chất thực tế lẫn giá trí kinh nghiệm, ví như 3 chiếc nhẫn kim cương trong một tập của mùa thi 6, hay cơ hội đóng phim, hay chụp ảnh và diễn cùng các người mẫu danh tiếng, tham gia tiệc khuya, hoặc một hợp đồng quảng cáo (Anya - thí sinh mùa 10 - sở hữu phần thưởng trị giá $10.000 với 7 Up sau khi chiến thắng thử thách của tuần)... Người thắng cuộc được quyền mời người bạn của mình cùng chia vui giải thưởng.

Với mùa thi 1, 3, 4, 5, 1012, buổi chụp hình đầu tiên các thí sinh không tham gia thử thách. Mùa thi 5, 7, 11 có nhiều thử thách trong một tập phim. Mùa thi 8, 9, 10 & 11 có thử thách và giải thưởng cho đội chiến thắng; riêng mùa thi 8 chỉ có thí sinh xuất sắc nhất đội mới được nhận giải thưởng, mùa thi 9 tất cả các thí sinh đều được nhận thưởng và người duy thí rút trúng thăm may mắn đoạt thêm giải thưởng phụ, ở mùa 10 cũng gần tương tự mùa 9 nhưng thí sinh xuất sắc nhất nhóm sẽ nhận giải thưởng phụ.

Phần giữa[sửa | sửa mã nguồn]

Các thí sinh tham gia chụp hình hoặc đóng phim quảng cáo. Trong các mùa thi, tuy có chủ đề khác nhau, nhưng vẫn có những phần chụp ảnh bắt buộc như là chụp ảnh áo tắm hay chụp ảnh đồ lót, chụp ảnh chân dung, tạo tư thế cho ảnh khoả thân hay tư thế bán khoả thân, chụp ảnh cùng người mẫu nam và chụp ảnh cùng các con vật. Và một tấm ảnh thương mại là phần không thể thiếu ở mỗi mùa thi (trừ Mùa thi 2, 59 – các mùa thi này có cô gái vừa phải chụp ảnh và quảng cáo cho một thương hiệu; Mùa 4, mùa 14 thì không có ảnh quảng cáo cho bất kì thương hiệu nào). Trong mùa thi 2mùa thi 9, không chụp ảnh thương mại nhưng thay vào đó các cô gái sẽ quay các clip ca nhạc cùng các ca sĩ (mùa 2 với Tyramùa 9 quay với Enrique Iglesias).

Phần kết[sửa | sửa mã nguồn]

Phần kết mỗi tập, các thí sinh đối diện với hội đồng giám khảo. Trong phần kết vẫn có các thử thách từ hội đồng giám khảo dành cho các thí sinh nhằm phát hiện ra tiềm năng cũng như tài vặt. Thử thách đôi lúc đơn giản, đôi lúc phức tạp như: mời khách mua hàng, bước đi, bộc lộ cảm xúc, tạo dáng... trước khi có kết quả chính thức từ hội đồng giám khảo. Nhưng từ tập đầu mùa thi 8 kịch bản đã bỏ phần thử thách này. Kế đó, các cô gái nghe lời phê bình của các giám khảo. Lời phê bình không chủ quan, mà nó khách quan bao hàm ý kiến của mọi người, dựa trên bức ảnh đẹp nhất (hay đoạn phim tốt nhất) mà thí sinh đã chụp (quay). Hai giờ tiếp theo là thời gian dành cho ban giám khảo thảo luận để quyết định loại một thí sinh, các cô gái rời phòng giám khảo và quay trở lại sau đó. Tyra luôn khen các thí sinh thể hiện cảm xúc xuất sắc trong tấm ảnh bằng câu nói: Congratulations. You are still in the running towards becoming the America’s Next Top Model (Chúc mừng bạn. Bạn vẫn tiếp tục trong cuộc đua trở thành Người mẫu đỉnh cao Mỹ ). Hai cô gái xếp cuối bảng sẽ cùng tiến về phía Tyra, họ được gọi là The bottom two, nghe Tyra nhận xét về ưu khuyết điểm và chỉ có một người bước tiếp vào vòng trong. Tuy nhiên có các trường hợp ngoại lệ đã xảy ra trong lịch sử ANTM:

  • Mùa 3,Mùa thi 11, Mùa thi 13 & Mùa 15 Magdalena, Hannah, RachelTerra bị loại trực tiếp từ bên ngoài, trước khi vào phòng giám khảo (một tập phim đặc biệt có hai lượt loại thí sinh, một lượt loại diễn ra sau khi chụp ảnh và lượt thứ hai diễn ra trong phòng giám khảo).
  • Mùa 4, giám khảo phải áp dụng hình thức loại kép (loại đồng thời RebeccaTiffany vì ảnh chụp không đạt và do thái độ).
  • Mùa 5, trong một tập, giám khảo không thể loại ai, loại rỗngCassandra đã xin rút lui cuộc thi vì không thích tóc mình bị cắt quá ngắn
  • Mùa 9, Ambreal /æmbri:əl/ đã bị loại, được tiếp tục vào vòng trong vì thí sinh Ebony không muốn tiếp tục thi. Ebony đã khiến cho mọi người hết sức ngạc nhiên vì khi Tyra gọi tên và trao bức hình cho cô, nhưng cô không đến nhận, khóc và bày tỏ cảm xúc của mình.
  • Mùa 10, Kimberly đã quyết định rời khỏi cuộc thi
  • Mùa 16, Ondrei Edwards đã xin rút lui sau tai nạn của 2 người anh trai mình.
  • Mùa 17 Angelea đã bị tước quyền thi
  • Mùa 18, Louise đã quyết định rời cuộc thi (tập 3) và Alisha cũng quyết định khỏi cuộc thi (tập 10)
  • Mùa 19 Maria xin rút lui cuộc thi và Leila là cô gái đầu tiên được quay lại cuộc thi sau khi bị loại
  • Mùa 20, hai thí sinh được quay trở lại cuộc thi gồm một nam một nữ là Jeremy và Alexandra
  • Mùa 21, Romeo là thí sinh nam đầu tiên xin bỏ cuộc và không tham gia các buổi chụp ảnh tiếp theo

ANTM và The CW[sửa | sửa mã nguồn]

Theo phát ngôn của người đại diện các hãng truyền hình, ngày 24 tháng 04 2006, chương trình Top Model chính thức sát nhập vào hệ thống truyền hình cáp The CW, sản phẩm kết hợp của hai kênh UPN và The WB. Trước thông tin sáp nhập vào The CW, 20-01-2006, UPN tuyên bố sẽ làm mới chương trình khi nó đã đi qua chín chặng đường.[7]

Để kỉ niệm chương trình thứ mười, một phiên bản đặc biệt đã lên sóng với tên gọi America's Next Top Model: Exposed gồm hai phần phát vào Thứ tư 06&13-02, 2008 trước ngày công chiếu mùa thi mới. Tập phim này giới thiệu tổng quát về chương trình trong suốt chín mùa thi trước, bao gồm: các màn "cấu xé" đáng sợ nhất; những tai nạn, rủi ro trong quá trình ghi hình; những bức ảnh đáng nhớ nhất; cá tính nổi bật; nói rõ hơn các khoảnh khắc đáng nhớ và những thước phim khác cùng với ba đoạn phim giới thiệu đặc biệtXem. Camille McDonald (Mùa 2), Toccara Jones (Mùa 3), Eva Pigford (người chiến thắng Mùa 3), Bre Scullark (Mùa 5), Cassandra Whitehead (Mùa 5), Joanie Dodds (Mùa 6), Jael Strauss (Mùa 8), Dionne Walters (Mùa 8), Heather Kuzmich (Mùa 9) và Bianca Golden (Mùa 9) cùng đến chung vui với sự kiện này và tham gia bình luận về các cô gái, sự kiện đã diễn ra.

ANTM trong giai đoạn khủng hoảng vì thiếu kịch bản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 21 tháng 07, 2006, lịch sử phim ảnh nước Mỹ đã xảy ra một chấn động lớn, đó là cuộc đình công của Hiệp hội biên kịch Mỹ đấu tranh giành nhiều quyền lợi hơn trong phân chia lợi nhuận và tác quyền kịch bản. Cuộc đấu tranh ảnh hưởng không chỉ với ngành điện ảnh nói riêng mà còn lan rộng tới toàn thể ngành giải trí. Trong giai đoạn đó, ANTM mùa 7 là chương trình dự định phát sóng đầu tiên để chào mừng kênh truyền hình mới The CW, một sản phẩm sát nhập của hai kênh UPNWarner Brothers, thì lại không có nguồn kịch bản để dàn dựng, buộc nhà đồng tổ chức Ken Mok phải ra quyết định cuối cùng cho loạt chương trình nổi tiếng này. Vì không tìm ra nhà biên kịch mới nào cả, nên Ken Mok quyết định tự tay viết kịch bản, giải nguy cho chương trình này khỏi bờ vực đóng cửa[8].

Phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số báo tháng 09 2006, nhà thiết kế thời trang danh tiếng của thương hiệu Chanel, Karl Lagerfeld, đã thẳng thừng phê bình về hai chương trình America's Next Top Model và Project Runway[9]: "cái đống rác rưởi này chỉ đáng cười trong năm phút nếu bạn đang ở cạnh ai đó. Hoặc chẳng buồn cười tí nào nếu bạn ở một mình. Những cô gái trẻ kia sẽ chẳng bao giờ được như siêu mẫu Gemma Ward. Họ chả có ích gì cho ngành công nghiệp thời trang". Gemma Ward là một người mẫu được phát hiện từ chương trình Australia's Search for a Supermodel, một chương trình truyền hinh thực tế ra đời trước và có kết cấu gần giống ANTM, phát sóng vào đầu năm 2003. Karl Lagerfeld đã từng tham gia chụp ảnh cho phiên bản ANTM ở Pháp.[10]

Tháng 10-2006, tạp chí Allure viết một bài về ANTM: "ANTM thật ra chả đào tạo được một người mẫu nào nên hồn cả". Nếu đem so sánh, thì các thí sinh trong American Idol còn có nhiều cơ hội làm việc tốt hơn, ngay cả khi họ không thắng cuộc.[11]

Trong mùa thi thứ 8 Ken Mok và Tyra Banks đã thừa nhận sai lầm: gần như tất cả các thí sinh đều nghiện thuốc lá rất nặng. Ken Mok phát biểu: "Tyra và tôi hiểu rất rõ tầm ảnh hưởng của 'Top Model' đối với thế hệ trẻ ngày nay, và tôi cam đoan sẽ lắng nghe những đề đạt từ khán giả". Để phản hồi ý kiến khán giả, ở những mùa thi tiếp theo Ken Mok đã định dạng chủ đề cho chương trình thân thiện với môi trường và nói không với thuốc lá.[12]

Sau khi ghi hình mùa thi thứ 10, nhà sản xuất chương trình ANTM bị Michael Marvisi, chủ căn hộ ở New York, khiếu kiện đòi $500.000 bồi thường thiệt hại do ném thức ăn bừa bãi trong căn hộ, khoét lỗ trên tường, làm hỏng hệ thống nước nhà tắm, tốn $15.000 sửa chữa đèn trang trí và $90.000 các thiết bị điện. Các nhân viên sản xuất chương trình cũng bị cáo buộc làm hư sàn nhà, đục trần nhà để lắp hệ thống đèn.[13]

Chiến thắng gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Saleisha Stowers giành được chiến thắng trong mùa thi thứ 9, nổi lên một cuộc tranh cãi gây gắt về tư cách người thắng cuộc cũng như là thí sinh tham gia chương trình America's Next Top Model. Vì trước khi tham gia chương trình này, cô đã đóng quảng cáo cho thương hiệu thức ăn nhanh Wendy's (vậy Saleisha đã hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực người mẫu trái quy định ban đầu của chương trình: thí sinh tham gia chưa từng hoạt động chuyên nghiệp, hoặc chỉ hành nghề nghiệp dư). Để ngừng những cuộc tranh luận trên, kênh truyền hình the CW tuyên bố với các cơ quan truyền thông khác rằng Saleisha đã chịu nhận trách nhiệm về phía mình, cô cũng chính là người đã tố cáo hành động sai trái của mình. Sau khi "xem xét đoạn phim quảng cáo, chúng tôi cho rằng cách thể hiện của cô không chuyên nghiệp tí nào, và vì thế cô vẫn có cơ hội tham gia chương trình".[14]

Nội dung chương trình trong 10 mùa thi qua có thay đổi đôi chút. Trừ mùa thi 1, mùa 2 và mùa 3, 3 thí sinh trụ vững nhất sẽ cạnh tranh nhau trong tấm ảnh chụp cuối cùng cho thương hiệu mỹ phẩm CoverGirl, 'ban giám khảo' sẽ loại đi một thí sinh nữa để chọn hai người tiềm năng hơn tranh tài trong một buổi trình diễn thời trang trước sự chứng kiến của đông đảo quan khách, báo chí và hội đồng giám khảo. Và phán quyết cuối cùng từ hội đồng giám khảo sẽ thể hiện trên màn hình TV.

Kể từ khi CoverGirl chính thức trở thành nhà tài trợ, hằng tuần các khán giả đều có cơ hội bình chọn cho thí sinh mình yêu thích để người đó nhận danh hiệu "CoverGirl của tuần" cùng giải thưởng. Đến mùa thi 11, mục này bị thay thế bằng "Top Model bứt phá", bao gồm các đoạn phim ngắn giới thiệu sự nghiệp của các cựu thí sinh Top Model.

Biểu ngữ các mùa thi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mùa thi 1: One Girl has what it takes (Cô gái tài sắc vẹn toàn)
  • Mùa thi 2: They are all gorgeous, but only one has what it takes (Các bạn đều đẹp, nhưng chỉ có một người duy nhất hội tụ đủ yếu tố)
  • Mùa thi 3: Beauty In Progress (Sắc đẹp thăng hoa)
  • Mùa thi 4: Dive In (Lặn xuống)
  • Mùa thi 5: Bling It On (Rung lên nào)
  • Mùa thi 6: Fairy Tales Come True (Cổ thích thành hiện thực)
  • Mùa thi 7: The competition won't be pretty (Tự tin, táo bạo và làm nên lịch sử)
  • Mùa thi 8: Welcome To The Jungle, Ladies (Chào mừng các quý cô tới rừng già)
  • Mùa thi 9: The Future Of Fashion (Thời trang của tương lai)
  • Mùa thi 10: New Faces, New Attitudes, New York (New York: Gương mặt mới, Phong Cách mới)
  • Mùa thi 11: Feel the Love (Cảm nhận tình yêu)
  • Mùa thi 12: Get in the Fold (Bước vào nếp gấp)
  • Mùa thi 13: The Lineup Is 5"7' And Under. Not The Usual Suspects. BOOK 'EM! (Đội hình không quá 1m70. Còn nghi ngờ gì nữa. Đặt hàng ngay)
  • Mùa thi 14: "Work It Out" (Công việc khác thường)
  • Mùa thi 15 " Are you ready for High Fashion ? (Bạn đã sẵn sàng cho thời trang cao cấp ?)
  • Mùa thi 16: Rainy Day Women (Ngày mưa)
  • Mùa thi 17: America's Next Top Model ALL ★ STARS (Các ngôi sao hội tụ)
  • Mùa thi 18: America's Next Top Model British Invasion (Cuộc xâm lược của người mẫu Anh)
  • Mùa thi 19: America's Next Top Model College Edition (Phiên bản đại học)
  • Mùa thi 20: America's Next Top Model Guys & Girls (Phiên bản Nam và Nữ)
  • Mùa thi 21: America's Next Top Model Guys & Girls 2 (Phiên bản Nam và Nữ 2)

Các mùa thi[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa thi

Lên sóng

Địa điểm

Thắng cuộc

Về nhì

Thí sinh bị loại

Số lượng

Điểm đến

Mùa 1

20/05/2003 NY Adrianne Curry Shannon stewart Tessa Carlson, Katie Cleary, Nicole Panattoni, Ebony Haith, Giselle Samson, Kesse Wallace, Robin Manning, Elyse Sewell 10 Cờ của Pháp

Paris

Mùa 2

13/01/2004 NY Yoanna House Mercedes Scelba-Shorte Anna Bradfield, Bethany Harrison, Heather Blumberg, Jenascia Chakos, Xiomara Frans, Catie Anderson, Sara Racey-Tabrizi, Camille McDonald, April Wilkner, Shandi Sullivan 12 Cờ của Ý

Milan

Mùa 3

22/09/2004 NY Eva Pigford Yaya Da Costa Magdalena Rivas, Leah Darrow, Julie Titus, Kristi Grommet, Jennipher Frost, Kelle Jacob, Cassie Grisham, Toccara Jones, Nicole Borud, Norelle Van Herk, Ann Markley, Amanda Swafford 14 Cờ của Nhật Bản

Tokyo

Mùa 4

02/03/2005 LA Naima Mora Kahlen Rondot Brita Petersons, Sarah Dankleman, Brandy Rusher, Noelle Staggers, Lluvy Gomez, Rebecca Epley, Tiffany Richardson, Tatiana Dante, Michelle Deighton, Christina Murphy, Brittany Brower, Keenyah Hill 14 Cờ của Cộng hòa Nam Phi

Cape Town

Mùa 5

21/09/2005 LA Nicole Linkletter Nik Pace Ashley Black, Ebony Taylor, Cassandra Whitehead (quit), Sarah Rhoades, Diane Hernández, Coryn Woitel, Kyle Kavanagh, Lisa D'Amato, Kim Stolz, Jayla Rubinelli, Bre Scullark 13 Cờ của Anh

Luân Đôn

Mùa 6

08/03/2006 LA Danielle Evans Joanie Dodds Kathy Hoxit, Wendy Wiltz, Kari Schmidt, Gina Choe, Mollie Sue Steenis-Gondi, Leslie Mancia, Brooke Staricha, Nnenna Agba, Furonda Brasfield, Sara Albert, Jade Cole 13 Cờ của Thái Lan

Băng Cốc

Mùa 7

20/09/2006 LA CariDee English Melrose Bickerstaff Christian Evans, Megan Morris, Monique Calhoun, Megg Morales, AJ Stewart, Brooke Miller, Anchal Joseph, Jaeda Young, Michelle Babin, Amanda Babin, Eugena Washington 13 Cờ của Tây Ban Nha

Barcelona

Mùa 8

28/02/2007 LA Jaslene Gonzalez Natasha Galkina Kathleen DuJour, Samantha Francis, Cassandra Watson, Felicia Provost, Diana Zalewski, Sarah VonderHaar, Whitney Cunningham, Jael Strauss, Brittany Hatch, Dionne Walters, Renee Alway 13 Cờ của Úc

Sydney

Mùa 9

19/09/2007 LA Saleisha Stowers Chantal Jones Mila Bouzinova, Kimberly Leemans, Victoria Marshman, Janet Mills, Ebony Morgan (quit), Sarah Hartshorne, Ambreal Williams, Lisa Jackson, Heather Kuzmich, Bianca Golden, Jenah Doucette 13 Cờ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Thượng Hải & Bắc Kinh

Mùa 10

20/02/2008 NY Whitney Thompson Anya Kop Kimberly Rydzewski (quit), Atalya Slater, Allison Kuehn, Amis Jenkins, Marvita Washington, Aimee Wright, Claire Unabia, Stacy Ann Fequiere, Lauren Utter, Katarzyna Dolinska, Dominique Reighard, Fatima Siad 14 Cờ của Ý

Roma

Mùa 11

03/09/2008 LA McKey Sullivan Sâmantha Potter ShaRaun Brown, Nikeysha Clarke, Brittany Rubalcaba, Hannah White, Isis King, Clark Gilmer, Lauren Brie Harding, Joslyn Pennywell, Sheena Satana, Elina Ivanova, Marjorie Conrad, Analeigh Tipton 14 Flag of the Netherlands

Amsterdam

Mùa 12

04/03/2009 NY Teyona Anderson Allison Hảrvard Isabella Falk, Jessica Santiago, Nijah Harris, Kortnie Coles, Sandra Nyanchoka, Tahlia Brookins, London Levi-Nance, Natalie Pack, Fo Porter, Celia Ammerman, Aminat Ayinde 13 Cờ của Brasil

São Paulo

Mùa 13

09/09/2009 LA Nicole Fox Laura Kirkpatrick Lisa Ramos, Rachel Echelberger, Courtney Davies, Lulu Braithwaite, Bianca Richardson, Ashley Howard, Kara Vincent, Rae Weisz, Brittany Markert, Sundai Love, Jennifer An, Erin Wagner 14 Flag of the United States

Hawaii

Mùa 14

10/03/2010 NY Krista White Raina Hein Gabrielle Kniery, Naduah Rugley, Ren Vokes, Simone Lewis, Tatianna Kern, Brenda Arens, Anslee Payne-Franklin, Alasia Ballard, Jessica Serfaty, Angelea Preston, Alexandra Underwood 13 Cờ của New Zealand

Auckland

Mùa 15

08/09/2010 LA Ann Ward Chelsey Hersley Anamaria Mirdita, Terra White, Sara Blackamore, Rhianna Atwood, Lexie Tomchek, Kacey Leggett, Kendal Brown, Esther Petrack, Liz Williams, Chris White, Kayla Ferell, Jane Randall 14 Cờ của Ý

Venice & Milan

Mùa 16

23/02/2011 LA Brittani Kline Molly O'Connell Angelia Alvarez, Ondrei Edwards (quit), Nicole Lucas, Dominique Waldrup, Sara Longoria, Dalya Morrow, Monique Weingart, Mikaela Schipani, Jaclyn Poole, Kasia Pilewicz, Alexandria Everett, Hannah Jones 14 Cờ của Maroc

Ma Rốc

Mùa 17

14/09/2011 LA Lísa D'Âmato Allison Hảrvard Brittany Brower, Sheena Sakai, Isis King, Camille McDonald, Bre Scullark, Bianca Golden & Kayla Ferrel, Alexandria Everett,Shannon Stewart,Dominique Reighard, Laura Kirkpatrick, Angelea Preston (disqualified) 14 Cờ của Hy Lạp

Hy Lạp

Mùa 18

29/02/2012 LA Sophie Sumner Laura LaFrate Jasmia Robinson, Mariah Watchman, Louise Watts (quit), Candace Smith, Ashley Brown, AzMarie Livingston, Kyle Gober, Seymone Cohen-Fobish, Catherine Thomas, Eboni Davis, Alisha White (quit), Annaliese Dayes 14 Cờ của Ma Cao

Ma Cao,

Cờ của Hồng Kông Hồng Kông, Cờ của Canada Toronto

Mùa 19

24/08/2012 LA Laura James Kiara Belen Jessie Rabideau, Maria Tucker (quit), Darian Ellis, Destiny Strudwick, Yvonne Powless, Allyssa Vuelma, Brittany Brown, Victoria Henley, Lảura James, Nastasia Scott, Leila Goldkuhl 13 Cờ của Jamaica

Jamai

Mùa20

24/08/2013 LA Jourdan Miller Marvin Cortes Bianca Alexa,Chris Schellenger,Chlea Ramirez,Mike Scocozza,Bianca "Kanani" Andaluz,Jiana Davis,Phil Sullivan,Alexandra "Alex" Agro,Don Benjamin,Nina Burns,Jeremy Rohmer,Renee Bhagwandeen,Chris Hernandez,Cory Hindorff 16

Cờ của Indonesia Bali

Thể lệ dự thi[sửa | sửa mã nguồn]

Thể lệ dự thi thay đổi qua các mùa thi. Và gần như cố định từ mùa thi thứ 8.

Nội dung thể lệ mới được quy định rất rõ trong mẫu đơn đăng kí dự tuyển cho mùa thi 12[15]. Các thí sinh tham gia chương trình bắt buộc phải là công dân Mỹ và hiện đang sống tại Mỹ. Thể lệ dự thi chỉ áp dụng cho nữ có độ tuổi từ 18-27; chiều cao tối thiểu là 1m70 (5ft. 7inch). Nhân viên của CBS, CW và các đối tác liên quan cũng như những người mẫu chuyên nghiệp (đã có kinh nghiệm tham gia các chiến dịch quảng cáo phát trên các phương tiện thông tin đại chúng, chụp hình trên các báo,... trong 5 năm gần đây) không được tham gia chương trình. Các thí sinh dự tuyển cũng bắt buộc phải có hộ chiếu mang giá trị hiện hành.

Người được chọn tham gia chương trình chính phải sống cùng 9-14 cô gái khác trong một biệt thự (hoặc căn hộ cao cấp) suốt 24-giờ trong ngày, 7-ngày trong tuần. Mọi hành vi đều được ghi hình ở mọi thời điểm, mọi vị trí và do ban biên tập toàn quyền quyết định phát hình trong chương trình...

Đổi mới trong mùa thi 13[sửa | sửa mã nguồn]

Nội quy mùa thi 13 được quy định rất rõ trong mẫu đơn đăng kí[16]. Ngoài một số điều khoản như các mùa thi trước, mùa thi 13 có nhiều điểm khác biệt. Ban tổ chức sẽ tổ chức vòng sơ tuyển trên khắp nước Mỹ để lựa ra 9-14 cô gái tham gia cuộc thi chính thức và 2 người dự bị. Các thí sinh được tuyển chọn phải có chiều cao tối thiểu là 1m70 (5ft. 7inch), một khi được chọn các thí sinh bắt buộc phải bỏ công việc hiện tại. Người thân, họ hàng hoặc những người khác chung sống trong gia đình (có thể không có quan hệ máu thịt) không được quyền can dự vào cuộc thi. Đặc biệt, nhà sản xuất có quyền quyết định không dựa theo nội quy trong từng trường hợp cụ thể.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “André Leon Talley's On Top... A YSL Red Alert... Everyday People...”. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2010. 
  2. ^ a ă “'Top Model' to get major makeover with Kimora Lee Simmons as new judge”. Daily News. 12 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  3. ^ “Paulina says she was fired from ‘Top Model’”. Access Hollywood. MSNBC. 13 tháng 5 năm 2009. 
  4. ^ “Kimora Lee Simmons Won't Judge America's Next Top Model”. New York. 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ Levin, Gary (6 tháng 12 năm 2006). “New CW looks to find firmer footing”. USA Today. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2007. 
  6. ^ http://www.abcmedianet.com/pressrel/dispDNR.html?id=112806_09
  7. ^ Nhận định tương lai - Trang web thông tin hạng nhất về các chương trình vàng
  8. ^ http://www.imdb.com/name/nm0596298/
  9. ^ Chloe Dao là thí sinh người Mỹ gốc Việt chiến thắng mùa thi thứ hai của chương trình Project Runway.
  10. ^ Harper's Bazaar, tháng 09-2006, cập nhật ngày 24 tháng 08, 2006 Diễn viên/ Cựu người mẫu Rebecca Romijn, lý giải tại sao chương trình này không thuyết phục và "chả có hạt vàng nào dành cho ngành công nghiệp thời trang". Hầu như tất cả thí sinh tham dự chương trình chỉ như 'lũ chuột cống góc chợ'.
  11. ^ 'Idol' là một tấm vé tốt để bay đến mơ ước tương lai, Melanie McFarland, Seattle Post-Intelligencer, 26 tháng 02, 2007.
  12. ^ Những khuôn hình kích động thanh thiếu niên hút thuốc lá, Tara Parker-Pope, The Wall Street Journal, 16 tháng 05, 2007.
  13. ^ Top Model 10 bị kiện đòi bồi thường $500.000 tại căn hộ NYC Loft.
  14. ^ E! News - Saleisha tốp của Top Model, Cue the Carping - Tyra Banks
  15. ^ http://www.cwtv.com/thecw/topmodel-cycle12-Casting Mẫu đơn đăng kí dự phỏng vấn Top Model 12
  16. ^ http://www.cwtv.com/thecw/topmodel-cycle13-Casting Mẫu đơn đăng kí dự phỏng vấn Top Model 13

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]