Friedrich I của Đế quốc La Mã Thần thánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Friedrich Barbarossa)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Friedrich I Barbarossa
Friedrich Barbarossa, ở giữa, hai bên là các con trai ông, hoàng đế Heinrich VI (trái) và Quận công Friedrich VI (phải).'
Friedrich Barbarossa, ở giữa, hai bên là các con trai ông, hoàng đế Heinrich VI (trái) và Quận công Friedrich VI (phải).'
Hoàng đế La Mã Thần thánh
Tại vị  1155-1190
Đăng quang 18 tháng 6 1155, Roma
Tiền nhiệm Lothar III Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Heinrich VI Vua hoặc hoàng đế
Vua Ý
Tại vị 1155–1190
Đăng quang khoảng. 1155, Pavia
Vua Đức
chính thức Vua của người La Mã
Tại vị 1152–1190
Đăng quang 9 tháng 3 1152, Aachen
Tiền nhiệm Konrad III Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Heinrich VI Vua hoặc hoàng đế
Vua Burgundy
Tại vị 1152–1190
Đăng quang 30 tháng 6 1178, Arles
Hoàng hậu
Hoàng tộc Nhà Hohenstaufen
Thân phụ Friedrich II, Quận công xứ Schwaben
Thân mẫu Judith xứ Bayern
An táng Nhà thờ Thánh Phêrô tại Antioch
Thánh đường Tyre
Tarsus
Tôn giáo Công giáo La Mã

Friedrich I Barbarossa[1] (1122 – 10 tháng 6 năm 1190) được bầu làm vua nước Đức tại Frankfurt vào ngày 4 tháng 3 năm 1152 và lên ngôi tại Aachen ngày 9 tháng 3, lên ngôi vua nước Ý tại Pavia năm 1154, và cuối cùng được Giáo hoàng Ađrianô IV phong làm Hoàng đế La Mã Thần thánh vào ngày 18 tháng 6 năm 1155. Ông lên ngôi vua xứ Burgundy tại Arles ngày 30 tháng 6 năm 1178. Người ta gọi ông là Barbarossa (có nguồn gốc từ tiếng Ý nghĩa là "râu đỏ", từ các thành phố miền bắc Ý mà ông cai trị), do ông có bộ râu màu đỏ và dài.[2] Trong tiếng Đức, ông được gọi là Kaiser Rotbart, với ý nghĩa tương tự.

Trước khi lên ngôi, ông được quyền thừa kế đất Công tước Schwaben (1147 – 1152, với danh hiệu Friedrich III). Ông là con trai Friedrich II, Quận công xứ Schwaben, thuộc dòng dõi nhà Hohenstaufen. Mẹ ông là nữ Quận chúa Judith xứ Bayern, con gái của Heinrich IX, Quận công xứ Bayern, thuộc nhà Welf đối nghịch, và như vậy ông xuất thân từ hai gia đình thế lực nhất nước Đức, khiến cho ông trở thành lựa chọn khả dĩ với các vị Tuyển hầu tước người Đức. Ông cũng là anh em họ của Heinrich Sư tử xứ Sachsen.[3] Trong thời gian cầm quyền ông đã vài lần ra quân trấn áp cuộc nổi dậy tại thành Milan. Tuy nhiên, ông thất bại trong cuộc chiến tranh chống người Lombard.[2]

Năm 1189, ông các vua Anh và Pháp tiến hành cuộc Thập tự chinh lần thứ ba nhằm giành lại vùng Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Giữa cuộc Thập tự chinh, ông qua đời vào năm 1190. Được nhân dân Đức vô cùng mến mộ,[4] ông được xem là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử nước Đức, và cũng là trung tâm của không ít huyền thoại. Trong vòng nhiều năm, những người nông dân không tin là ông đã mất, mà đang ngủ trong hang động trên một ngọn núi ở Đức, xung quanh ông có những dũng sĩ.[2]

Mục lục

Thời trẻ[sửa]

Friedrich chào đời năm 1122, năm 1147 ông trở thành Quận công xứ Schwaben, rồi chỉ một thời gian ngắn sau, tháp tùng chú của mình là vua Konrad III của Đức, tiến hành cuộc Thập tự chinh thứ hai. Cuộc thập tự chinh thất bại thảm hại, nhưng Friedrich lại nổi bật lên, và giành được sự tin tưởng tuyệt đối từ người chú của mình. Khi vua Konrad qua đời vào tháng 2 năm 1152, chỉ có Friedrich và Giám mục Bamberg có mặt tại giường bệnh của ông, và chứng thực rằng Konrad trao vương hiệu lại cho Friedrich, để nối nghiệp mình. Friedrich Barbarossa theo đuổi ngai vàng một cách đầy nhiệt tình, và tới ngày 4 tháng 3, các Tuyển hầu tước bầu ông làm vua nước Đức. Ông lên ngôi tại Aachen vài ngày sau, khi đó ông 28 tuổi.[5] Khi đó, có sự phân biệt giữa việc được chọn lên làm "vua người La Mã", nhưng lên ngôi tại Đức, và với việc đăng quang tại Rôma, và chính thức nhận tước vị hoàng đế. Ông nhận vương miện Hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh từ giáo hoàng, tại Rôma ngày 18 tháng 6 năm 1155.[6] Friedrich I là người nhà Hohenstaufen theo phía cha, và là người nhà Welf theo phía mẹ, tức là hai dòng họ hùng mạnh nhất nước Đức khi đó.

Friedrich I. Barbarossa

Lúc đó vương quyền rất yếu, vua không có thực quyền. Nhà vua được các công vương bầu lên, nhưng chỉ cai quản lãnh địa riêng của mình, và không thực sự có quyền gì trên các phần khác của vương quốc. Vương miện hoàng đế được truyền từ dòng họ này sang dòng họ khác, để ngăn ngừa một dòng họ nào chiếm lấy làm của riêng mình. Khi Friedrich I Hohenstaufen lên ngôi vua năm 1152, vương quyền thực tế đã vô chủ trong 25 năm, và ở một chừng mực nào đó là hơn 80 năm. Tài lực khi đó tập trung chủ yếu ở các thành phố giàu có miền bắc Ý, nơi chừng nào theo danh nghĩa vẫn thuộc về hoàng đế Đức[7] Dòng dõi Salia chấm dứt khi vua Heinrich V từ trần năm 1125. Các thân vương Đức không chịu trao vương miện cho cháu vua là quận công Schwaben, vì sợ rằng ông này sẽ tập trung vương quyền của Heinrich V. Thay vào đó, họ chọn Lothiar (1125 - 1137), ông này vướng vào vòng tranh chấp với nhà Hohenstaufen, và thông gia với nhà Welf. Một người của nhà Hohenstaufen giành được ngai vàng là Konrad III (1137 - 1152), và khi Friedrich Barbarossa kế nhiệm chú mình, ông có cơ hội tốt để chấm dứt xự xung khắc giữa hai nhà, vì ông xuất thân từ cả hai nhà. Nhưng quận công Welf xứ Sachsen là Heinrich Sư tử không hài lòng. Ông tiếp tục coi dòng vua Hohenstaufen là địch thủ. Barbarossa có các lãnh địa Schwaben và Franken, có cá tính mạnh mẽ, nhưng cũng chỉ có thế, để xây dựng nên đế quốc của mình.[8]

Nước Đức mà Friedrich muốn thống nhất khi đó là một tập hợp chắp vá gồm hơn 1.600 tiểu quốc, mỗi tiểu quốc cai trị bởi một ông hoàng. Một vài tiểu quốc như Bayern và Sachsen tương đối lớn, đa phần còn lại nhỏ đến mức khó mà chỉ ra được trên bản đồ.[9] Danh vị dành cho vua Đức khi đó là "Caesar", "Augustus" và "hoàng đế La Mã". Lúc Friedrich đăng quang, các danh tước đó chỉ còn là hư danh[10] Frederick là một người thực tế, ông đối tiếp các vương hầu Đức trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Không giống như Henry II của Anh, Frederick không tìm cách chấm dứt chế độ phong kiến Trung Cổ, mà tìm cách hồi phục nó, nhưng điều này vượt quá khả năng của ông. Những phe phái lớn nhất trong cuộc nội chiến tranh giành ảnh hưởng tại Đức là Giáo hoàng, Hoàng đế, phe Ghibillines - tức nhà Hohenstaufen, và phe Guelfs - tức nhà Welf. Không phe nào trong số đó nổi trội hẳn lên được.[11]

Trỗi dậy[sửa]

Gia huy nhà Hohenstaufen

Mong muốn khôi phục Đế quốc trở lại thời hoàng kim dưới thời CharlemagneOtto I Đại đế, vị tân hoàng đế nhận rõ rằng tái lập trật tự tại Đức là điều kiện tiên quyết để thiết lập vương quyền trên đất Ý. Bằng cách ra các chỉ dụ hòa bình, ông ban cho giới quí tộc nhiều nhân nhượng rộng rãi. Đối ngoại, Friedrich I can thiệp vào cuộc nội chiến tại Đan Mạch và bắt đầu đàm phán với Hoàng đế Đông La MãManuel I Comnenus. Có lẽ cũng thời gian này, ông được phép của Giáo hoàng hủy bỏ cuộc hôn nhân của ông với Adelheid xứ Vohburg, với lý do họ hàng gần (ông tổ 5 đời của ông là anh trai của bà tổ 5 đời của Adelheid). Ông tiếp đó cố gắng tiến hành một cuộc hôn nhân với triều đình Constantinopolis, nhưng không thành công. Khi lên ngôi, ông báo tin cho Giáo hoàng Êugêniô III, nhưng sao lãng không yêu cầu Giáo hoàng chuẩn y. Tháng 3 năm 1153, Friedrich ký kết hiệp ước với Giáo hoàng, theo đó để đổi lại việc chấp thuận để ông lên ngôi, ông hứa sẽ bảo vệ Giáo Hoàng, không chấp thuận hòa ước với vua Roger II xứ Sicilia hay các đối thủ khác của Giáo hội mà không có sự chấp thuận của Giáo hoàng, và giúp Giáo hoàng duy trì kiểm soát kinh thành Rôma.[12]

Cai trị và chiến tranh ở Ý[sửa]

Friedrich Barbarossa tiến hành sáu cuộc chinh phạt vào Ý. Cuộc chinh phạt đầu tiên, ông được trao vương miện Hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh tại Rôma bởi Giáo hoàng Ađrianô IV, sau việc quân đội Hoàng gia đàn áp lực lượng nổi dậy công xã, theo chủ nghĩa cộng hòa, lãnh đạo bởi Arnold của Brescia. Trong chiến dịch năm 1155 tại Rôma, Friedrich nhanh chóng liên minh với Giáo hoàng Ađrianô IV để giành lại thành phố. Lực lượng chống đối chủ yếu theo Arnold của Brescia, ông này vốn theo học với nhà thần học Peter Abelard. Arnold bị bắt, bị treo cổ với tội phản nghịch và bạo loạn.[13]

Friedrich Barbarossa trong một cuốn biên niên sử ở thế kỷ 13

Friedrich Barbarossa rời nước Ý vào mùa thu năm 1155 để chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh mới và còn gay go hơn nữa.

Tình hình hỗn loạn lúc đó lan tràn tại Đức, đặc biệt là tại xứ Bayern, nhưng hòa bình đã được vãn hồi bởi các hoạt động mạnh mẽ, nhưng có tính xoa dịu của Frederick. Đất quận công Bayern được chuyển từ tay bá tước Áo là Henry II Jasomirgott, cho người bà con đáng gờm của Friedrich là Heinrich Sư tử, quận công xứ Sachsen, thuộc nhà Guelph, cha ông này vốn kiểm soát cả hai vùng. Henry II Jasomirgott được phong làm quận công Áo, để bù lại việc mất Bayern. Với chính sách thỏa hiệp với các lực lượng chính của các thân vương Đức và chấm dứt nội chiến trong vương quốc, Friedrich ve vãn Henry của Áo bằng cách ban cho Henry chỉ dụ Privilegium Minus, phong Henry từ bá tước thành quận công Áo, việc chưa từng xảy ra. Đây được xem là cột mốc quan trọng, đánh dấu việc tách Áo khỏi Bayern, mở đầu cho việc thành lập nước Áo độc lập. Đây cũng là một sự nhân nhượng lớn từ phía Friedrich, vì ông hiểu rằng ông phải hòa giải với Heinrich Sư tử, thậm chí phải chia sẻ quyền lực nếu cần. Ông không thể ra mặt đối đầu với Heinrich ngay được.[14] Ngày 9 tháng 6 năm 1156 tại Würzburg, Friedrich cưới Beatrice I, quận chúa Burgundy, con gái và là người thừa kế của bá tước Renaud III xứ Burgundy, và như vậy thêm vào lãnh địa của mình vùng đất rộng lớn Burgundy.

Tháng 6 năm 1158, Friedrich tiến hành cuộc viễn chinh Ý lần thứ hai, được hỗ trợ bởi Heinrich Sư tử và quân Sachsen của ông ta. Kết quả của cuộc viễn chinh là ông thiết lập các tướng lãnh Hoàng gia tại các thành phố bắc Ý, thành Milan nổi dậy và bị chinh phục, và ông bắt đầu cuộc đấu tranh dai dẳng với giáo hoàng Alexanđê III. Để đối lại việc ông bị rút phép thông công bởi giáo hoàng năm 1160, Friedrich tuyên bố ủng hộ địch thủ của giáo hoàng là Victor IV (1159-1164).[15] Friedrich muốn triệu tập một hội đồng cùng với vua Louis của Pháp năm 1162 để quyết định ai sẽ là giáo hoàng. Vua Louis đã đến gần nơi diễn ra hội nghị, thì biết rằng Friedrich đã dồn phiếu chống Giáo hoàng Alexanđê III, nên vua Louis quyết định không đến nữa. Kết quả là vấn đề này không được giải quyết xong khi đó.[16]

Lễ cưới giữa Friedrich và Beatrice xứ Burgundy

Sự tranh chấp giữa ông và Giáo hoàng Alexanđê dẫn đến kết quả là vương quốc Sicilia của các vương tôn Norman và giáo hoàng thành lập một liên minh chống lại Friedrich[17]. Trở về Đức vào cuối năm 1162, Friedrich ngăn ngừa sự leo thang xung đột giữa Heinrich Sư tử xứ Sachsen và một số các vương hầu lân bang, những người ngày càng tỏ ra lo ngại trước sự bành trướng thế lực, ảnh hưởng và lãnh thổ của Heinrich. Ông cũng trừng phạt dân chúng thành Mainz một cách khắc nghiệt vì tội nổi loạn chống lại Tổng giám mục Arnold. Trong cuộc viễn hành tới Ý năm 1163, kế hoạch chinh phục Sicilia của ông đổ vỡ vì một liên minh hùng mạnh đã thành lập để chống lại ông, nguyên nhân chính là để phản kháng lại việc đóng thuế cho vương quyền.

Friedrich sau đó quay sang tái lập hòa bình cho vùng Rhineland, nơi ông tổ chức một đại tiệc mừng lễ phong thánh cho Charles Đại đế (tức Charlemagne) tại Aachen. Tháng 10 năm 1166, ông lại tiến vào Ý để hỗ trợ cho Giáo hoàng đối lập Pascalê IIII, và để đăng quang cho vợ ông là Beatrice là hoàng hậu của Đế quốc La Mã thần thánh. Lần này, Heinrich Sư tử từ chối không đi Ý cùng ông, thay vào đó tập trung vào cuộc tranh giành với các lân bang và bành trướng vào lãnh thổ của người Slavơ ở đông bắc Đức. Quân của Friedrich đánh bại quân Rôma trong trận Monte Porzio, nhưng chiến dịch này phải ngưng lại vì bệnh dịch bùng phát, đe dọa tiêu hủy quân đội Hoàng gia, khiến ông phải chạy về Đức và ở lại đó trong 6 năm tiếp đó. Trong thời gian này, Friedrich phải ra các phán quyết phân định các lãnh địa giám mục thuộc về ai, áp đặt vương quyền lên các xứ Bohemia, Ba Lan, Hungary, thiết lập quan hệ hữu hảo với hoàng đế Đông La Mã là Manuel I Comnenus, và cải thiện mối liên lạc giữa các đối thủ Henry II của AnhLouis VII của Pháp. Nhiều bá tước xứ Schwaben, bao gồm cả người bà con của ông là vị Quận công xứ Schwaben trẻ tuổi, Friedrich IV, chết năm 1167, khiến ông có thể tập trung các vùng đất này thành lãnh địa Quận công Schwaben, đặt dưới tay ông. Đứa con nhỏ của ông, Friedrich V, trở thành tân Quận công Schwaben.

Những năm cuối đời[sửa]

Năm 1174, vua Friedrich Barbarossa tiến hành cuộc viễn chinh Ý lần thứ năm, nhưng bị Liên minh Lombard (giờ có thêm Venezia, SiciliaConstantinopolis) theo phe giáo hoàng chống lại.[18] Các thành phố miền bắc Ý đã trở nên hết sức thịnh vượng nhờ thương mại, và đại diện cho một bước ngoặt trong bước chuyển từ trật tự phong kiến Trung Cổ. Khi Friedrich Barbarossa bị liên minh các thành phố bắc Ý đánh bại, cả châu Âu bị sốc vì không tưởng tượng được việc đó có thể xảy ra.[19]

Cùng việc Heinrich Sư tử từ chối đưa viện quân vào Ý, cuộc viễn chinh thất bại thảm hại. Friedrich Barbarossa có thể hành binh vượt miền bắc Ý, chiếm Rôma, và đưa Giáo hoàng đối lập Pascalê III lên ngôi, nhưng người Lombard nổi dậy ở sau lưng ông, trong khi bệnh dịch làm quân đội của ông bị suy yếu nghiêm trọng.[18] Friedrich tiếp đó bị đánh bại trong trận Legnano gần Milan ngày 29 tháng 5 năm 1176. Ông bị thương, và có lúc người ta tưởng là ông đã chết. Trận chiến này là bước ngoặt trong cuộc đấu tranh giành quyền làm chủ đế quốc của ông.[20] Ông không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải thương lượng với giáo hoàng Alexanđê III và Liên minh Lombard. Theo hòa ước Anagni 1176, Friedrich công nhận Alexanđê III là Giáo hoàng, và với hiệp ước Venezia 1177, Friedrich và Giáo hoàng Alexanđê III chính thức hòa giải.[21] Friedrich phải chịu khuất phục trước giáo hoàng tại Venezia. Ông công nhận quyền lực của giáo hoàng tại Quốc gia Giáo hoàng (tức Rôma và vùng phụ cận), đổi lại Giáo hoàng Alexanđê III thừa nhận quyền chủ tể của Hoàng đế với Giáo hội Đế quốc. Cũng theo hòa ước Venezia, hòa bình được thiết lập với Liên minh các thành phố Lombard từ tháng 8 năm 1178.[22] Tiếp đó, hòa bình vĩnh viễn được thiết lập với hòa ước Constance, Friedrich thừa nhận quyền của các thành phố này được tự bầu thị trưởng thành phố. Như vậy Friedrich giành lại quyền cai trị trên danh nghĩa trên đất Ý, đó là cách chủ yếu mà ông áp đặt sức ép lên giáo hoàng[23]

Barbarossa và Heinrich Sư tử

Friedrich Barbarossa không tha thứ cho Heinrich Sư tử vì việc không đưa quân đến hỗ trợ cho ông trong chiến dịch năm 1174. Tới năm 1180, Heinrich đã thành công trong việc thiết lập một công quốc hùng mạnh và liên tục, gồm Sachsen, Bayern và nhiều lãnh thổ rộng lớn ở miền đông và bắc Đức. Lợi dụng sự thù địch của nhiều công vương Đức với Heinrich, Friedrich Barbarossa xử vắng mặt Heinrich trong một phiên tòa chủ tọa gồm nhiều giám mục và công vương Đức năm 1180, tuyên bố rằng luật đế quốc có hiệu lực hơn luật cổ truyền Đức, xử phạt Heinrich bằng cách tước bỏ đất đai của ông này, và đặt ông này ra ngoài vòng pháp luật.[24]

Tiếp đó, ông đưa quân đội Đế quốc tiến đánh Sachsen. Heinrich bị các đồng minh bỏ rơi, và cuối cùng Heinrich phải chấp nhận đầu hàng vào tháng 11 năm 1181. Heinrich phải chịu lưu vong trong 3 năm tại triều đình cha vợ mình là Henry II của Anh tại Normandy, trước khi được phép trở lại Đức. Heinrich sống những ngày cuối đời mình tại Đức với danh vị Quận công Brunswick trong một lãnh thổ nhỏ hẹp hơn rất nhiều. Khát vọng báo thù của Friedrich như vậy đã hoàn tất, Heinrich Sư tử giờ sống một cuộc đời bình lặng, bảo trợ nghệ thuật và kiến trúc.

Dù đã hạ bệ được Heinrich Sư tử, Friedrich không thể nào du nhập được hệ thống phong kiến tập quyền kiểu Anh vào Đức được.[25] Ông phải đối diện với thực trạng hỗn loạn tại các tiểu quốc Đức, với nội chiến diễn ra liên miên giữa các công vương giành giật ngôi vị và đất đai. Sự thống nhất nước Ý dưới quyền lãnh đạo của hoàng đế Đức cũng chỉ là hư danh. Dù rằng đã tuyên bố quyền bá chủ của hoàng đế Đức, nhưng thực quyền trên đất Ý nằm trong tay giáo hoàng.[26] Trở về Đức sau thất bại tại bắc Ý, Frederick phải ngậm bồ hòn làm ngọt, hoàn toàn kiệt lực. Các công vương Đức, thay vì phục tùng dưới trướng hoàng đế, lại thu thập của cải, quyền lực, củng cố thế lực của mình. Bắt đầu xuất hiện khuynh hướng trong xã hội nhằm "thiết lập nước Đại Đức" bằng cách chinh phục người Slavơ ở phía đông.[27]

Thập tự chinh và cái chết[sửa]

"Cái chết của Hoàng đế Friedrich I" do Gustav Dore vẽ

Hoàng đế Friedrich bắt tay vào chuẩn bị cho cuộc Thập tự chinh lần thứ ba (1189), một cuộc viễn chinh qui mô lớn với sự phối hợp của quân Pháp, dưới quyền chỉ huy của vua Philippe II và quân Anh dưới quyền chỉ huy của vua Richard I. Ông tổ chức một đạo quân lớn với 100.000 người (bao gồm 20 ngàn hiệp sỹ) và hành tiến bằng đường bộ đến Đất Thánh.[28] Tuy nhiên, một số sử gia tin rằng đây là con số phóng đại, và lực lượng viễn chinh thực tế chỉ khoảng 15 ngàn chiến binh, với khoảng 3 ngàn hiệp sỹ.[29]

Thập tự quân vượt qua các Vương quốc Hungary, SerbiaBulgaria rồi tiến vào lãnh thổ Đông La Mã, đến Constantinopolis vào mùa thu năm 1189. Khi họ đến Hunary, Barbarossa thân hành mời một hoàng thân Hungary là Géza, em trai vua Béla III của Hungary tham gia cuộc Thập tự chinh, vì vậy 2.000 quân Hungary dưới sự chỉ huy của hoàng thân Géza hợp binh với quân Đức. Quân Tây Âu tiến sâu vào nội địa Tiểu Á (nơi họ giành thắng lợi và hạ được các thành Aksehir, Konya), rồi tiến vào vương quốc Cilicia của người Armenia. Cuộc tiến quân của cánh quân lớn này khiến cho Saladin và các thủ lĩnh Hồi giáo khác hết sức lo lắng, và họ bắt đầu hội binh để chặn quân của Barbarossa.

Tuy nhiên ngày 10 tháng 6 năm 1190, Hoàng đế Friedrich Barbarossa không may bị chết tại sông Saleph khi quân Đức đang tiến về Antioch từ Armenia; các sử gia Ả rập nói rằng đạo quân này đóng trại tại bờ sông, và hoàng đế ra bờ sông để tắm thì bị dòng sông chảy xiết cuốn đi, khiến ông bị chết đuối.[30] Thập Tự quân Đức vô vàn thương tiếc ông.[4]

Cái chết của Hoàng đế Friedrich đẩy đạo quân của ông vào tình trạng hỗn loạn. Không có chỉ huy, rối loạn, bị quân Thổ tấn công tứ phía, rất nhiều binh sỹ Đức bỏ trốn, bị giết, thậm chí tự sát. Chỉ có chừng 5.000 quân, tức là một bộ phận nhỏ của lực lượng ban đầu đến được Acre. Con trai ông, quận công Friedrich VI xứ Schwaben, tiếp tục cuộc viễn chinh với những lực lượng còn sót lại của cánh quân Đức, cùng với quân Hungary của hoàng thân Géza. Họ muốn chôn hoàng đế tại Jerusalem, nhưng thi thể của ông không giữ được nguyên vẹn trong giấm, nên xác thịt của ông được chôn tại nhà thờ Thánh Phê-rô tại Antioch, xương cốt của ông được chôn tại thánh đường Tyre, trái tim và nội tạng của ông tại Tarsus.

Cái chết bất ngờ của Friedrich khiến cho quyền lãnh đạo cuộc Thập tự chinh chỉ còn nằm trong tay các vị vua Philippe II của PhápRichard I của Anh, mà hai người này lại đối nghịch với nhau, dẫn đến việc lực lượng Thập tự chinh bị phân tán. Quân Pháp quay trở về, chỉ còn quân Anh tiếp tục đông tiến và giao chiến với Saladin, nhưng không thực hiện được mục tiêu ban đầu của người Thiên chúa là chiếm lại Jerusalem và Đất Thánh.

Truyền thuyết[sửa]

Friedrich phái tiểu đồng ra xem bầy quạ có còn bay lượn không

Đương thời, Hoàng đế Friedrich I được nhân dân kính yêu, đến mức người ta truyền tụng rằng : "Nước Đức và Friedrich Barbarossa là một thứ nằm trong những con tim người Đức".[4] Được coi là một trong những vị vua lớn nhất trong lịch sử nước Đức,[31] Friedrich I là trung tâm của rất nhiều huyền thoại, trong đó có truyền thuyết về vị vua ngự trong núi, giống như truyền thuyết cổ hơn của nước Anh về vua ArthurBendigeidfrân. Truyền thuyết kể rằng ông không chết, mà ngủ trong một hang động tại vùng núi Kyffhäuser tại Thuringia, hay đỉnh UntersbergBayern, Đức, cùng với các hiệp sỹ của mình, và rằng bầy quạ sẽ ngừng bay xung quanh núi một khi ông thức giấc, và đưa nước Đức trở lại thời kỳ hoàng kim như xưa cũ. Theo truyền thuyết này, bộ râu đỏ của ông mọc dài tới cái bàn mà ông ngồi. Đôi mắt của ông lim dim như đang ngủ, nhưng thi thoảng ông lại phẩy tay, sai chú tiểu đồng ra xem bầy quạ đã ngưng bay chưa.[32] Một thuyết tương tự, bối cảnh tại Sicilia, được gán cho cháu nội ông là Friedrich II, Hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh.[33] Trong thời gian diễn ra quá trình thống nhất nước Đức, ông được xem là một vị anh hùng dân tộc Đức.[34] Vào năm 1871, khi đất nước được thống nhất, Hoàng đế (Kaiser) Wilhelm I đã đội chiếc Vương miện của Barbarossa lên đầu mình tại cung điện Versailles (Pháp).[35] Để thu thập sự ủng hộ về chính trị, nền Đệ nhị Đế chế Đức đã cho xây dựng đài kỷ niệm Kyffhäuser trên đỉnh núi Kyffhäuser, trong đó Wilhelm I được tuyên bố là hậu thân của Friedrich I ; lễ cung hiến năm 1896 được tổ chức trong ngày 18 tháng 6, chính là ngày đăng quang của Hoàng đế Friedrich I.[36]

Một huyền thoại khác kể rằng khi Friedrich Barbarossa chuẩn bị đánh chiếm thành Milan năm 1158, vợ ông là hoàng hậu Beatrice bị người Milan bắt giữ, và bị dong qua thành phố trên lưng lừa để biêu riếu. Theo nguồn này, để rửa hận, ông buộc giới chức thành này phải dùng răng để lấy hạt quả sung từ hậu môn một con lừa[37] Một nguồn khác thì cho rằng ông buộc tất cả đàn ông trong thành phố phải ngậm phân lừa. Người ta nói rằng hình phạt này là nguồn gốc của động tác sỉ nhục đặt ngón cái giữa ngón trỏ và ngón giữa, với bàn tay nắm chặt.[38]

Trong một bài diễn văn tại Đại học Bonn vào ngày 24 tháng 4 năm 1901, Hoàng đế Wilhelm II có đề cập đến những năm tháng huy hoàng của nước Đức dưới triều Barbarossa, nhưng cũng nêu lên sự thiếu đồng nhất của Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức, cuối cùng đã dẫn đến sự suy vong của Đế quốc này cũng như sự qua đi của thời kỳ vinh quang của Barbarossa.[39] Lãnh tụ Đức Quốc xã (Führer) Adolf Hitler cũng tôn vinh vua Friedrich Barbarossa như một tấm gương sáng trong lịch sử.[31] tấn công Liên bang Xô viết năm 1941, chiến dịch này được đặt theo tên hiệu của ông là Chiến dịch Barbarossa[40]. Qua đó, Hitler thể hiện sự mong muốn vị Hoàng đế vĩ đại thời Trung Cổ này sẽ che chở cho chiến dịch ấy, và quyết định áp đặt sự bá quyền của dân tộc Đức đối với người Slavơ.[31]

Con cái[sửa]

  1. Sophie (1161 – 1187), kết hôn với Bá tước William VI xứ Montferrat.
  2. Beatrice (1162 – 1174). Bà được hứa hôn với vua xứ Sicilia William II nhưng qua đời trước khi kết hôn.
  3. Friedrich V, Công tước xứ Schwaben (Pavia, 16 tháng 7 năm 1164 – 28 tháng 11 năm 1170).
  4. Heinrich VI (Nijmegen, tháng 11 năm 1165 – Messina, 28 tháng 9 năm 1197), sau là Hoàng đế La Mã Thần thánh.
  5. Conrad (Modigliana, tháng 2 năm 1167 – Acre, 20 tháng 1 năm 1191). Sau khi Công tước Friedrich V qua đời, ông trở thành Friedrich VI, Công tước xứ Schwaben.
  6. Một công chúa (Gisela?) (tháng 10/tháng 11 năm 1168 – 1184).
  7. Otto I, Bá tước xứ Burgundy (tháng 6/tháng 7 năm 1170 – bị giết tại Besançon vào ngày 13 tháng 1 năm 1200).
  8. Conrad II, Công tước xứ Swabia và Rothenburg (tháng 2/tháng 3 năm 1172 – bị giết tại Durlach vào ngày 15 tháng 8 năm 1196).
  9. Renaud (tháng 10/tháng 11 năm 1173 – chết khi còn bé).
  10. William (tháng 6/tháng 7 1176 – chết khi còn bé).
  11. Philipp xứ Schwaben (tháng 8 năm 1177 – bị giết tại Bamberg vào ngày 21 tháng 6 năm 1208), lên ngôi vua nước Đức vào năm 1198.
  12. Agnes (1181 – 8 tháng 10 năm 1184). Bà được hứa hôn với vua Hungary Emeric nhưng qua đời trước khi kết hôn.

Tổ phụ của Friedrich I[sửa]

Xem thêm[sửa]

Chú thích[sửa]

  1. ^ Có nghĩa là Râu đỏ.
  2. ^ a b c H. John Haaren,John H. Haaren, "Famous Men of the Middle Ages", các trang 123-126.
  3. ^ Louise Fargo Brown,George Barr Carson, "Men and centuries of European civilization", tr. 243
  4. ^ a b c H. John Haaren,John H. Haaren, "Famous Men of the Middle Ages", trang 115
  5. ^ Harold Joseph Berman, "Law and revolution: the formation of the Western legal tradition", Harvard University Press, 1983, tr. 488
  6. ^ Le Goff, J. Medieval Civilization, 400-1500, Barnes and Noble, New York, 2000, p. 266.
  7. ^ Cantor, N. F. Medieval History, Macmillan and Company, 1969, p. 302-3.
  8. ^ Cantor, N. F., ibid. p. 428-429.
  9. ^ Dahmus, p. 359, ibid.
  10. ^ Brown, R. A., The Origins of Modern Europe, Boydell Press, 1972.
  11. ^ Davis, R. H. C. A History of Medieval Europe, Longmans, 1957, p. 318-319.
  12. ^ Falco, G. The Holy Roman Republic, Barnes and Co., New York, 1964, p. 218 et seq.
  13. ^ Cantor, N. F., ibid. p. 368-9.
  14. ^ Davis, R. H. C., A History of Medieval Europe, Longmans, 1957, p. 319.
  15. ^ Dahmus, J., The Middle Ages, A Popular History, Doubleday & Co. Garden City, New York, 1969, p. 295.
  16. ^ Munz, Peter. Frederick Barbarossa: A Study in Medieval Politics. Cornell University Press, Ithaca and London, 1969, p. 228.
  17. ^ Davis, R. H. C., p. 326-7, ibid.
  18. ^ a b Kampers, Franz. "Frederick I (Barbarossa)". The Catholic Encyclopedia. Vol. 6. New York: Robert Appleton Company, 1909. 21 tháng 5 năm 2009.
  19. ^ Le Goff, J. Medieval Civilization 400-1500. Barnes and Noble, New York, 2000, p. 104; reprint of B. Arthaud. La civilization de l'Occident medieval, Paris, 1964.
  20. ^ Davis, R. H. C., p. 332 et seq., ibid.
  21. ^ Brown, R. A., p. 164-5 "The Origins of Modern Europe", Boydell, 1972
  22. ^ online in the Yale Avalon project
  23. ^ Le Goff, J., ibid. p. 96-97
  24. ^ Davis, R. H. C., p. 333, ibid.
  25. ^ Cantor, N. F., ibid. pp. 433-434.
  26. ^ Le Goff, J. ibid. pp. 102-3.
  27. ^ Cantor, N. F., ibid. p. 429.
  28. ^ J. Phillips, The Fourth Crusade and the Sack of Constantinople, 66
  29. ^ Konstam, Historical Atlas of the Crusades, 162
  30. ^ See, eg, Ibn Al-Athir, XII, 30-32
  31. ^ a b c Cyprian Blamires, World Fascism: A Historical Encyclopedia, Tập 1, trang 80
  32. ^ Brown, R. A., p. 172, ibid.
  33. ^ Kantorowicz, Frederick II; last chapter
  34. ^ David Ohana, David Maisel, The Origins of Israeli Mythology: Neither Canaanites Nor Crusaders, trang 132
  35. ^ Edward Bellamy, Laura Bonds, Looking Backward by Edward Bellamy - A Utopian Novel, trang 216
  36. ^ Jarausch, KH. “After Unity; Reconfiguring German Identities”, Berghahn Books Inc. New York, 1997, P 35, ISBN 1-57181-041-2
  37. ^ Walford, Edward, John Charles Cox, and George Latimer Apperson. "Digit Folklore part II". The Antiquary: A Magazine Devoted to the Study of the Past 1885 Volume XI: January-June.
  38. ^ Novobatzky, Peter and Ammon Shea. Depraved and Insulting English. Orlando: Harcourt, 2001
  39. ^ John C. G. Röhl, Young Wilhelm: The Kaiser's Early Life, 1859-1888, các trang 280-281.
  40. ^ Vasilevsky, Aleksandr Mikhailovich (1984), "Sự nghiệp cả cuộc đời", Moskva: NXB Tiến Bộ, tr. 567

Tài liệu tham khảo[sửa]

Tài liệu chính
Tài liệu phụ
  • Haverkamp, Alfred. Friedrich Barbarossa, 1992
  • Novobatzky, Peter and Ammon Shea. Depraved and Insulting English. Orlando: Harcourt, 2001
  • Munz, Peter. "Frederick Barbarossa: A Study in Medieval Politics". Cornell University Press, Ithaca and London, 1969
  • Opll, Ferdinand. Friedrich Barbarossa, 1998
  • Reston, James. Warriors of God, 2001
  • Walford, Edward, John Charles Cox, and George Latimer Apperson. "Digit Folklore part II". The Antiquary: A Magazine Devoted to the Study of the Past 1885 Volume XI: January-June.
  • Louise Fargo Brown,George Barr Carson, "Men and centuries of European civilization", Ayer Publishing, 1971.
  • H. John Haaren,John H. Haaren, "Famous Men of the Middle Ages", BiblioBazaar, LLC, 2007.

Liên kết ngoài[sửa]