Only Girl (in the World)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Only Girl (In the World))
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Only Girl (In the World)"
Đĩa đơn của Rihanna
từ album Loud
Phát hành 10 tháng 9, 2010 (2010-09-10)
(xem lịch sử phát hành)
Định dạng Tải kĩ thuật số, Đĩa CD
Thu âm 2010
Thể loại Eurodance, dance-pop
Thời lượng 3:55
Hãng đĩa Def Jam
Sáng tác Cristyle
Sản xuất Stargate, Sandy Vee
Thứ tự Rihanna
"Love the Way You Lie"
(2010)
"Only Girl (In The World)"
(2010)
"What's My Name?""
(2010)

"Only Girl (In the World)" (tạm dịch: Người con gái duy nhất (trên thế giới)) là một bài hát của nữ ca sĩ ngườI Barbados Rihanna, trích từ album phòng thu thứ năm của cô, Loud. Được viết bởi Crystal Johnson, StargateSandy Vee, và sau đó cũng có hai người góp tay sản xuất, bài hát đã được phát hành vào ngày 10 tháng chín năm 2010, như một đĩa đơn đầu tiên từ Loud. Đó là một bài hát dancepop với nhịp điệu nhanh và âm át trong đó kết hợp các yếu tố của Europop trong nhạc nền. Đánh giá và nhận xét của bài hát nhận được khá nhiều phản hồi tích cực, đặc biệt là đối với đoạn điệp khúc mạnh mẽ và việc sản xuất âm nhạc. Các nhà phê bình cũng bổ sung vào sự lựa chọn giọng hát của Rihanna. "Only Girl (In the World)" đứng đầu hầu hết các bảng xếp hạng lớn trên thế giới và đặc biệt thành công ở New ZealandAustralia, nơi nó đã được chứng nhận đĩa bạch kim ba lần. Đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng nước Mỹ Billboard Hot 100, dành cho Rihanna vị trí quán quân lần thứ 9 trên Hot 100. Một video âm nhạc đi kèm với bài hát được quay bởi cộng tác viên chính thức Anthony Mandler và sử dụng khung cảnh đơn giản chủ yếu tập trung vào Rihanna với một loạt các phong cảnh nghệ thuật và đạo cụ. Những cảnh nổi trội mô tả Rihanna đang nô đùa trên sườn đồi. Đĩa đơn đã được trình diễn trực tiếp trên khắp thế giới bao gồm cả series bảy của The X Factor tại Anh và tại American Music Awards 2010 tại Los Angeles. Bài hát đã đoạt giải Grammy cho Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất tại giải Grammy lần thứ 53.[1]

Viết và sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

"Only girl " được viết bởi Crystal Johnson, Mikkel S. Eriksen, Tor Erik Hermansen và Sandy Wilhelm. Bài hát được sản xuất bởi StargateSandy Vee. "Only Girl" là một bài hát dancepop với nhịp điệu nhanh và âm át trong đó kết hợp các yếu tố của Europop trong nhạc nền.[2][3] Bài hát có nét đặc biệt với những tiếng bass nặng và việc sử dụng mạnh mẽ các âm synths[3], trong khi điệp khúc của bài hát kết hợp những nhạc nền dance club quyến rũ.[2] Đoạn thứ 2 của bài hát này mang những nhịp điệu bass rộn ràng và đoạn giang tấu đã được mô tả như là một "vương quốc của thú vui xác thịt".[4] Giọng của Rihanna trong bài hát được mô tả là rất "quyến rũ" và gợi nhớ một "phiên bản mạnh mẽ hơn sexy hơn" của cô vào năm 2007, với single " Don't Stop the Music ".[3] Theo bản nhạc được xuất bản tại Musicnotes, bài hát được viết với nhịp 4/4 và một nhịp độ vừa phải trong 126 nhịp mỗi phút. Bài hát được viết bằng giọng F-thăng thứ (mặc dù điệp khúc là B thứ) và giọng hát của Rihanna trong bài hát mở rộng từ nốt F thăng 3 đến nốt D 5.[5]

Nhận xét và phê bình[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát đã nhận được những đánh giá tốt từ các nhà phê bình âm nhạc. Bill Lamb từ trang web About.com đã tặng cho bài hát 4 sao rưỡi trên 5 sao. Lamb đã khen ngợi bài hát vì "đoạn điệp khúc cao chót vót" và "và những nhịp điệu nhún nhẩy". Anh ta kết luận rằng "Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu bài hát đưa Rihanna trở lại ví trí quán quân trên bảng xếp hạng trong năm sau đĩa đơn "Rude Boy".[4] Gerrick D. Kennedy của tờ Los Angeles Times đã dành cho bài hát những lời nhận xét tích cực, "Mặc dù chúng ta không nhất thiết phải nói rằng Rihanna đã trở lại, bởi cô ấy đã chẳng đi đâu cả—cô ấy đang trở lại rất đúng cách." Trích dẫn một số ý kiến của Rihanna về bài hát, ông đã nói, "Sau khi thử nghiệm những điều khủng khiếp với đĩa nhạc thứ 4 của mình, Rated R, cô ấy đã quyết định đi theo hướng "gợi cảm, vui nhộn, thích tán tỉnh [và] đầy năng lượng'", và kết luận, "Với những nhịp điệu tràn đầy bass nặng và ảnh hưởng của Euro-pop, chưa kể đến đoạn điệp khúc tuyệt hay như bản anh hùng ca, bài hát chắc chắn là một hit."[6] Monica Herrera của Billboard đã khen ngợi nhóm sản xuất bài hát cũng như Rihanna, cô viết, "[Bài hát] nhắm thẳng đến mưu đồ thống trị cả sàn nhảy, như một ngôi sao nhạc pop thổ lộ con tim mình cho một người đàn ông một cách hết tốc lực với sự sản xuất tuyệt vời bởi bộ đôi hitmaking người Na Uy, Stargate.""[7]

James Dinh của tờ MTV News đã nhận xét tích cực cho việc viết bài hát, "Sau khi đi sâu vào album mới nhất của Rihanna, cô ấy đã quay trở lại với sàn nhảy sôi động với đĩa đơn mới của mình", "Bằng những nhịp điệu tràn đầy năng lượng, Rihanna ước ao người yêu luôn giữ mình ở vị trí quan trọng nhất trong tim bằng những nhịp điệu electro beat. Giọng của cô ấy thật ngọt ngào ở đoạn đầu, sau đó bùng nổ ở đoạn điệp khúc."[8] Nick Levine của Digital Spy đã tặng bài hát 4 trên 5 sao, miêu tả bài hát như một "đĩa đơn trở lại để làm vui lòng mọi người". Ông ấy cũng nói rằng bài hát có thể không độc đáo lắm, nhưng có lẽ Rihanna đã tỏa sáng vượt trội nhất sau đĩa đơn 'Don't Stop The Music'".[9] Fraser Mc Alpine của đài BBC đã nhận xét "Only Girl" và cho đĩa đơn này 4 trên 5 sao. McAlpine viết "bất kể bạn nghĩ như thế nào về Rihanna, cô ấy rất giỏi việc bắt buộc các bạn phải nghe những gì cô ấy phải nói, thậm chí nếu cô ấy có làm bạn tổn thương để làm điều đó."[10]

Diễn biến trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hoa Kỳ, "Only Girl" xuất hiện lần đầu tiên trên Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 75.[11] Tuần tiếp theo, bài hát đã nhảy lên vị trí thứ 3, là bài hát thứ 16 của Rihanna góp mặt trên top 10 ở Hot 100, và xếp thứ 6 trong tổng cộng những ca sĩ nữ có nhiều bài hát nhất góp mặt trên top 10 trong lịch sử 52 năm của bảng xếp hạng.[12] Trong tuần thứ 11, bài hát đã leo lên vị trí quán quân, trở thành đĩa đơn thứ 9 của Rihanna có vị trí này.[13] Đây là lần đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn đầu tiên của một album đạt vị trí quán quân sau khi đĩa đơn thứ 2 đạt vị trí này ("What's My Name?").[13] "Only Girl" xuất hiện lần đầu trên bảng xếp hạng Hot Digital Songs ở vị trí số 1 sau khi bán được 249,000 bản.[14] Bài hát trở thành đĩa đơn thứ 6 chỉ mới xuất hiện lần đầu đã đứng nhất bảng xếp hạng và là đĩa đơn thứ 8 của cô đạt vị trí quán quân trên bảng xếp hạng này.[14] Bài hát cũng đạt vị trí số 1 tại bảng xếp hạng Pop Songs, đưa Rihanna No.1 thứ bảy và cũng đưa cô ấy trở thành giọng ca có nhiều đĩa đơn quán quân nhất trong lịch sử bảng xếp hạng này.[15] Bài hát gia nhập bảng xếp hạng Canadian Hot 100 ở vị trí 65 vào ngày phát hành 25 tháng 9 năm 2010.[16] Tuần tiếp theo đĩa đơn đã leo lên vị trí số 1, rồi đánh mất vị trí này trong tuần tiếp nữa.[17] Sau nhiều tuần biến động trên bảng xếp hạng đĩa đơn đã đạt vị trí quán quân một lần nữa vào tuần tính từ ngày 6 tháng 11 năm 2010.[18] Bài hát đã giữ vị trí đó trong 3 tuần và vì thế tổng cộng là 4 tuần dẫn đầu bảng xếp hạng không liên tiếp.[19]Úc, "Only Girl" tham gia bảng xếp hạng ở vị trí số 1 sau khi phát hành vào ngày 3 tháng 10 năm 2010.[20] Bài hát giữ vị trí này trong tổng cộng 3 tuần sau khi đánh mất vị trí đó cho "Raise Your Glass" của Pink. Bài hát đạt vị trí dẫn đầu lần thứ 4 và cũng là lần cuối vào ngày 7 tháng 11 năm 2010.[20] Nó đã được chứng nhận 3 lần đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu Âm Australia (ARIA) cho hơn 210,000 đĩa được bán.[21]New Zealand, bài hát xuất hiện lần đầu ở vị trí số 1 và được chứng nhận 3 lần đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu Âm New Zealand (RIANZ). Ở Vương quốc Anh, bài hát xuất hiện lần đầu tại vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng tính từ ngày 31 tháng 10 năm 2010, bán được hơn 126,000 bản.[22] Doanh thu này đã dành cho Rihanna đĩa đơn thứ 2 bán được nhiều nhất trong năm 2010 và "Only Girl" trở thành hit thứ 14 nằm trong top 10.[22] Tuần tiếp theo bài hát đã leo lên vị trí số 1, trở thành đĩa đơn quán quân thứ 4 của Rihanna ở Vương quốc Anh giữ vị trí dẫn đầu này trong 2 tuần liên tiếp. Bài hát đã được chứng nhận đĩa vàng cho hơn 400,000 đĩa được bán.[23]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Video âm nhạc Only Girl của Rihanna

Video âm nhạc của "Only Girl" được đạo diễn bởi Anthony Mandler và phát sóng trực tiếp vào ngày 13 tháng 10 năm 2010.[24] Trong một cuộc phỏng vấn Rihanna đã giải thích việc quay video và chủ đề đơn giản của video này, "Nó thật sự, thật sự là những khung cảnh rất đẹp trong những nơi rất, rất, rất điên khùng. Chúng tôi đã chọn phong cảnh mà chúng tôi đã tìm kiếm trong vài giờ ở ngoại ô L.A. Nó trông hơi không thật lắm. Nó trông giả tạo, đại loại giống những đồi núi xinh đẹp trong mấy tấm quảng cáo... Chúng tôi đã có những ngày nắng chói chang, vì thế nó thật sự là một video đúng bản chất. Nhưng thật ra, video chỉ chiếu những vùng đất rộng lớn và chỉ có một người ở đó là tôi."[25][26] Video làm theo đúng sự vô tư trong lời bài hát, ám chỉ cô ấy là "cô gái duy nhất trên thế giới".[25] Video làm nổi bật Rihanna là người duy nhất trong video đang hát và nhảy múa vây quanh là những đạo cụ độc đáo.[25] Đa phần hình ảnh của Rihanna trong video đều là đi nghênh ngang vòng quanh những vùng đồi, mặc một các áo len dài tay bằng nỉ và váy ngắn, rồi đến áo ngực khung và váy ngắn có in hoa, và cuối cùng, là một cái áo ngực trắng quần soọc có váy phủ ngoài.[24] Những cảnh khác trong video bao gồm cảnh Rihanna bị vây quanh bởi những bong bóng nhiều màu sắc, ngồi trên một chiếc xích đu treo giữa trời, hoặc nằm lên thảm hoa và sau đó nhảy múa trước một cái cây đầy đèn sáng nhấp nháy, đó là một hình ảnh siêu thực.[27] Tanner Stransky của The Music Mix đánh giá video rất tích cực, nhận xét về khung cảnh đơn giản của video, và nói rằng "như Rihanna đang nói chuyện trực tiếp với bạn, với người xem, và cô ấy là cô gái duy nhất của bạn, xinh đẹp, rồi những vùng đất rộng lớn. Đó là một hiệu ứng khiến bạn tập trung thẳng vào RiRi, người đàn bà quyến rũ với những bộ trang phục gợi tình và mạnh mẽ đã đốt cháy nhất là khi cô ấy mặc tại VMAs tháng trước."[25] Joyce Lee từ CBS đã viết, "Rihanna đã chính thức rời khỏi những ngày tháng Rated R ảm đạm và trở nên nữ tính hơn, vui vẻ hơn với video âm nhạc mới của cô ấy, "Only Girl (In the World)"." [28]

Biểu diễn trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

"Only Girl" đã được biểu diễn lần đầu tiên tại Bắc Mỹ trong chương Saturday Night Live. Rihanna đã chọn bài hát làm nhạc nền cho tập Halloween của chương trình Saturday Night Live nơi cô đã biểu diễn "What's My Name?" và "Only Girl (In the World)".[29] Những ngày tiếp sau, đến với Vương quốc Anh, Rihanna đã biểu diễn bài hát trên chương trình The X-Factor.[30] Cô ấy cũng đã biểu diễn bài hát trong buổi trao giải thưởng MTV Europe Music Awards 2010 tổ chức ở Madrid, Tây Ban Nha,[31] X FactorÝ và trong chương trình Le Grand JournalPháp vào ngày 10 thang 11 năm 2010.[32]

Rihanna đã biểu diễn liên khúc với các bài hát "Love the Way You Lie (Part II)" và "What's My Name?" trong lễ trao giỏi American Music Awards of 2010.[33] Rihanna đã mở một buổi buổi diễn cho phiên bản acappella của "Love The Way You Lie Part II". Cô ấy đã ngồi trên một cái cây cách điệu và bay lượn trên một cách đồng cỏ úa. Đột nhiên cô ấy kết thúc bài hát đầu tiên và nhảy mạnh từ cái cây xuống sân khấu. Rihanna tái xuất hiện trong một trang phục mới từ màn sương mù với áo ngực trắng đen và quần soọc, hát bài "What’s My Name?".[33] Màn trình diễn kết hợp với một đoàn vũ công làm nền. Rihanna sau đó đã kết thúc màn trình diễn sau khi chuyển giọng sang bài hát "Only Girl" với trống và một khung cảnh cháy lửa vào cuối cùng.[33]

Danh sách ca khúc và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tải kĩ thuật số[34]
  1. "Only Girl (In the World)" – 3:55
  • Đĩa đơn CD ở Đức[35]
  1. "Only Girl (In the World)" – 3:55
  2. "Only Girl (In the World)" (Extended Club Mix) – 5:39
  • Đĩa đơn CD ở Anh[36]
  1. "Only Girl (In the World)" – 3:55
  2. "Only Girl (In the World)" (Instrumental) – 3:55

Bảng xếp hạng và chứng nhận doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2010–11) Vị trí
cao nhất
Úc (ARIA)[20] 1
Áo (Ö3 Austria Top 75)[37] 1
Bỉ (Ultratop 50 Flanders)[38] 2
Bỉ (Ultratop 40 Wallonia)[39] 1
Brazil (Billboard Brasil Hot 100)[40] 26
Brazil Hot Pop Songs[40] 6
Canada (Canadian Hot 100)[19] 1
Cộng hòa Séc (IFPI)[41] 4
Đan Mạch (Tracklisten)[42] 2
European Hot 100 Singles[43] 1
Phần Lan (Suomen virallinen lista)[44] 2
Pháp (SNEP)[45] 2
Đức (Media Control AG)[46] 2
Hungary (Rádiós Top 40)[47] 1
Ireland (IRMA)[48] 1
Israel (Media Forest)[49] 1
Ý (FIMI)[50] 1
Nhật Bản (Japan Hot 100)[51] 8
Luxembourg (Billboard)[52] 2
Hà Lan (Dutch Top 40)[53] 2
New Zealand (RIANZ)[54] 1
Na Uy (VG-lista)[55] 1
Ba Lan (Polish Airplay Top 5)[56] 1
Bồ Đào Nha (Billboard)[57] 1
Rumani (Romanian Top 100)[58] 1
Scotland (The Official Charts Company)[59] 1
Slovakia (IFPI)[60] 1
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[61] 2
Thụy Điển (Sverigetopplistan)[62] 2
Thụy Sĩ (Media Control AG)[63] 2
Anh Quốc (The Official Charts Company)[64] 1
US Billboard Hot 100[65] 1
US Adult Contemporary (Billboard)[66] 17
US Adult Pop Songs (Billboard)[67] 11
US Hot Dance Club Songs (Billboard)[68] 1
US Latin Tropical Airplay (Billboard)[69] 18
US Pop Songs (Billboard)[70] 1

Xếp hạng mọi thời đại[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí
UK Singles (Official Charts Company)[71] 99

Lượng tiêu thụ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[72] 5× Bạch kim 350.000^
Bỉ (BEA)[73] Bạch kim 30.000*
Denmark (IFPI)[74] Bạch kim 2,000
Đức (BVMI)[75] Bạch kim 300.000^
Ý (FIMI)[76] Bạch kim 30.000*
New Zealand (RMNZ)[77] Bạch kim 15.000*
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[78] Bạch kim 40.000^
Thụy Điển (GLF)[79] Bạch kim 20.000x
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[80] 2× Bạch kim 60.000x
Anh (BPI)[81] Bạch kim 1,040,000[82]^
Hoa Kỳ (RIAA)[83] 3× Bạch kim 3,459,000[84]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2010) Vị trí
Australia (ARIA)[85] 7
Austria (Ö3 Austria Top 40)[86] 18
Belgium (Ultratop 50 Flanders)[87] 22
Belgium (Ultratop 40 Wallonia)[88] 22
Denmark (Tracklisten)[89] 15
European Hot 100 Singles[90] 35
France (SNEP)[91] 17
Hungary (Rádiós Top 40)[92] 75
Ireland (IRMA)[93] 5
Netherlands (Dutch Top 40)[94] 23
Spain (PROMUSICAE)[95] 26
Sweden (Sverigetopplistan)[96] 8
Switzerland (Schweizer Hitparade)[97] 11
UK Singles (Official Charts Company)[98] 4
US Billboard Hot 100[99] 47
US Hot Dance Club Songs (Billboard)[100] 46
Bảng xếp hạng (2011) Vị trí
Austria (Ö3 Austria Top 40)[101] 67
Belgium (Ultratop 50 Flanders)[102] 68
Belgium (Ultratop 40 Wallonia)[103] 70
Canada (Canadian Hot 100)[104] 27
Germany (Media Control AG)[105] 82
Hungary (Rádiós Top 40)[106] 15
Romania (Airplay 100)[106] 44
Spain (PROMUSICAE)[107] 20
Sweden (Sverigetopplistan)[108] 32
Switzerland (Schweizer Hitparade)[109] 42
UK Singles (Official Charts Company)[110] 68
US Billboard Hot 100[111] 40
US Adult Contemporary (Billboard)[112] 37
US Adult Pop Songs (Billboard)[113] 43
US Digital Songs (Billboard)[114] 65
US Pop Songs (Billboard)[115] 33
US Radio Songs (Billboard)[116] 19

Phát thanh và lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày Định dạng Nhãn hiệu
Úc[117] 10 tháng 9, 2010 Tải kĩ thuật số Universal Music
Đan Mạch[118]
Hà Lan[119]
New Zealand[120]
Bỉ 13 tháng 9, 2010
Canada[121]
Phần Lan[122]
Pháp[123]
Ý[124]
Na Uy[125]
Bồ Đào Nha[126]
Tây Ban Nha[127]
Thụy Sĩ[128]
Thụy Điển[129]
Hoa Kỳ[34] Def Jam Records
Đức[35] 8 tháng 10, 2010 Đĩa đơn CD Universal Music

Phát sóng trên vô tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày Định dạng
Brasil 14 tháng 9, 2010[130] Đài Mainstream
Hoa Kỳ 21 tháng 9, 2010[131][132] Đài Mainstream và Rhythmic

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The Grammy®s Season 53”. CBS.com. CBS Interactive. 2010. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010. 
  2. ^ a ă Anderson, D, Sarah (7 tháng 9 năm 2010). “Rihanna, 'Only Girl (In the World)' -- New Song”. AOL Radio. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. 
  3. ^ a ă â Wete, Brad (7 tháng 9 năm 2010). “Rihanna released new single Only Girl (In The World), gets us excited about upcoming album”. Music Mix. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. 
  4. ^ a ă Lamb, Bill. “Rihanna - "Only Girl (In the World)"”. About.com. The New York Times Company. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  5. ^ “Rihanna, 'Only Girl (In The World)' – Composition Sheet Music”. Musicnotes.com. Alfred Publishing. 
  6. ^ Kennedy D., Gerrick (7 tháng 9 năm 2010). “Rihanna gets 'Loud' with new disc, returns to dance roots on album's first single”. The L.A. Times music blog. Los Angeles Times. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. 
  7. ^ Herrera, Monica (7 tháng 9 năm 2010). “Rihanna Reveals 'Loud' Album Title, 'Only Girl' Single”. Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. 
  8. ^ Dinh, James (7 tháng 9 năm 2010). “Rihanna Debuts New Single, 'Only Girl (In The World)' Club banger premiered on Ryan Seacrest's radio show Tuesday morning”. MTV News. MTV Networks (Viacom). Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2010. 
  9. ^ Levine, Nick (25 tháng 10 năm 2010). “Rihanna: 'Only Girl (In The World)'”. Digital Spy. Hachette Filipacchi (UK) Ltd. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2010. 
  10. ^ McAlpine, Fraser (23 tháng 10 năm 2010). “Rihanna - 'Only Girl (In The World)'”. BBC Chart Blog. British Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  11. ^ “Week of September 25, 2010 (Only Girl US Entry)”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2010. 
  12. ^ Herrera, Monica (8 tháng 10 năm 2010). “Rihanna:The Billboard Cover Story”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  13. ^ a ă Pietroluongo, Silvio (24 tháng 11 năm 2010). “"Rihanna's 'Only Girl' Rebounds to No. 1 on Hot 100”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  14. ^ a ă Pietroluongo, Silvio (22 tháng 9 năm 2010). “Bruno Mars Lands Atop Hot 100, Rihanna Roars Into Top 10”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010. 
  15. ^ “Beyonce Plans Second Thanksgiving Special”. Billboard. Prometheus Global Media. 1 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  16. ^ “Billboard (September 25, 2010) Only Girl Canadian Entry”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  17. ^ “Billboard (October 2, 2010) Only Girl Chart Performance”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  18. ^ “Billboard (November 6, 2010) Only Girl Chart Performance”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  19. ^ a ă "Rihanna Album & Song Chart History" Canadian Hot 100 for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 4 tháng 11 năm 2010.
  20. ^ a ă â "Australian-charts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập 27 tháng 9 năm 2010.
  21. ^ “ARIA Charts — Accreditations – 2010 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  22. ^ a ă “Promise delivers as Cheryl Cole and Rihanna score biggest first week non-charity singles of 2010 so far"”. The Official Charts Company. 31 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  23. ^ Jones, Alan (5 tháng 12 năm 2011). “Rihanna scores first million-selling UK solo single”. Music Week. Intent Media. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  24. ^ a ă Roberts, Soraya (14 tháng 10 năm 2010). “Rihanna's 'Only Girl (In the World)' video, off 'Loud' album, shows underwear-clad singer swinging”. NYDailyNews. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  25. ^ a ă â b Stransky, Tanner (14 tháng 10 năm 2010). “Rihanna Debuts 'Only Girl (In The World)' Video: Finally, run RiRi returns”. The Music Mix. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  26. ^ Talarico, Brittany (13 tháng 10 năm 2010). “Rihanna Debuts 'Only Girl (In The World)' Video”. OK! Magazine. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  27. ^ “Rihanna Frolics Alone In 'Only Girl (In The World)' Video”. Billboard. 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  28. ^ Lee, Joyce (14 tháng 10 năm 2010). “Rhianna "Only Girl (In The World)" Video Flaunts Singer's Girly Side”. CBS Interactive Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  29. ^ “Video: Rihanna Performs on 'SNL'”. Rap-Up.com. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  30. ^ “Video: Rihanna Performs on 'X Factor'”. Rap-Up.com. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2010. 
  31. ^ "MTV EMA 2010:: 07.11.2010:: Madrid:: Une nuit magique dans la Boite Magique !" (in French). MTV Networks.
  32. ^ “Rihanna au Grand Journal ce soir” (bằng tiếng Pháp). TVMag.com. 10 tháng 11 năm 2010. 
  33. ^ a ă â Ziegbe, Mawuse (21 tháng 11 năm 2010). “Rihanna Opens American Music Awards With Island Flavor”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2010. 
  34. ^ a ă “Only Girl (In The World) - Single - United States”. Itunes. Apple Inc. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  35. ^ a ă “Only Girl (In The World) - CD Single - Germany”. Bravado. Bravado Inc. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2010. 
  36. ^ “Only Girl (In The World) - CD Single - UK”. Amazon. Amazon.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  37. ^ "Rihanna - Only Girl (In The World) Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập 29 tháng 10 năm 2010.
  38. ^ "Ultratop.be - Rihanna - Only Girl (In The World)" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop 50. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 24 tháng 9 năm 2010.
  39. ^ "Ultratop.be - Rihanna - Only Girl (In The World)" (bằng tiếng Pháp). Ultratop 40. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 8 tháng 10 năm 2010.
  40. ^ a ă BPP biên tập (tháng 2 năm 2011). “Billboard Brasil Hot 100 Airplay”. Billboard Brasil (15): 84–89. ISSN 977-217605400-2. 
  41. ^ "ČNS IFPI" (bằng tiếng Séc). Hitparáda - RADIO TOP100 Oficiální. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201052 vào ô tìm kiếm. Truy cập 5 tháng 1 năm 2011.
  42. ^ "Danishcharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)". Tracklisten. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 11 năm 2010.
  43. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" European Hot 100 for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 11 tháng 11 năm 2010.
  44. ^ "Finnishcharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)". Suomen virallinen lista. Hung Medien. Truy cập 23 tháng 9 năm 2010.
  45. ^ "Lescharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập 25 tháng 11 năm 2010.
  46. ^ "Musicline.de - Chartverfolgung - Rihanna - Only Girl (In The World) 2-Track" (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. PhonoNet GmbH. Truy cập 22 tháng 10 năm 2010.
  47. ^ "Archívum - Slágerlisták - MAHASZ - Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége" (bằng tiếng Hungary). Rádiós Top 40 játszási lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Truy cập 30 tháng 12 năm 2010.
  48. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK. Truy cập 25 tháng 11 năm 2010.
  49. ^ "Rihanna – Only Girl Media Forest". Israeli Airplay Chart. Media Forest.
  50. ^ "Italiancharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)". Top Digital Download. Hung Medien. Truy cập 25 tháng 11 năm 2010.
  51. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Japan Hot 100 for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 1 tháng 12 năm 2010.
  52. ^ “Rihanna - Chart History Luxembourg”. Billboard.biz. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2012. 
  53. ^ "Nederlandse Top 40 - week 52, 2010" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40 Stichting Nederlandse Top 40.
  54. ^ "Charts.org.nz - Rihanna - Only Girl (In The World)". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập 28 tháng 9 năm 2010.
  55. ^ "Norwegiancharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)". VG-lista. Hung Medien. Truy cập 24 tháng 9 năm 2010.
  56. ^ “Listy bestsellerów, wyróżnienia:: Związek Producentów Audio-Video”. Polish Music Charts. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  57. ^ “Rihanna - Chart History Portugal”. Billboard.biz. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2012. 
  58. ^ “Romanian Top 100: Facts and stats: Rihanna”. 13 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013. 
  59. ^ "13, 2010 Archive Chart". Scottish Singles Top 40. The Official Charts Company.
  60. ^ "SNS IFPI" (bằng tiếng Slovakia). Hitparáda - RADIO TOP100 Oficiálna. IFPI Czech Republic. Chú ý: nhập 201044 vào ô tìm kiếm. Truy cập 10 tháng 11 năm 2010.
  61. ^ "Spanishcharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)" Canciones Top 50. Hung Medien. Truy cập 26 tháng 9 năm 2010.
  62. ^ "Swedishcharts.com - Rihanna - Only Girl (In The World)". Singles Top 60. Hung Medien. Truy cập 25 tháng 11 năm 2010.
  63. ^ "Rihanna - Only Girl (In The World) swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien. Truy cập 18 tháng 9 năm 2010.
  64. ^ "Archive Chart" UK Singles Chart. The Official Charts Company. Truy cập 7 tháng 7 năm 2011.
  65. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Billboard Hot 100 for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 25 tháng 11 năm 2010.
  66. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Billboard Adult Contemporary Songs for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 4 tháng 1 năm 2012.
  67. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Billboard Adult Pop Songs for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 23 tháng 11 năm 2010.
  68. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Billboard Hot Dance/Club Play for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 4 tháng 11 năm 2010.
  69. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Billboard Latin Tropical Airplay for Rihanna. Prometheus Global Media.
  70. ^ "Rihanna Album & Song Chart History" Billboard Pop Songs for Rihanna. Prometheus Global Media. Truy cập 23 tháng 11 năm 2010.
  71. ^ Daniel Lane. “Lady Gaga scores another million-selling single!”. Official Charts Company. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013. 
  72. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2012 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  73. ^ “Ultratop − Goud en Platina - 2011”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. 
  74. ^ “Track Top-40”. IFPI Denmark (bằng Danish). Hitlisten.NU. 14 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2011. 
  75. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Rihanna; 'Only Girl (In the World)')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  76. ^ “Italy single certifications – Rihanna – Only Girl (In the World)” (PDF) (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. 
  77. ^ THAM SỐ id (số bảng xếp hạng) PHẢI ĐƯỢC CUNG CẤP CHO CHỨNG NHẬN NEW ZEALAND.
  78. ^ “Spain single certifications – Rihanna – Only Girl (In the World)” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. 
  79. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2010” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. 
  80. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Rihanna; 'Only Girl (In the World)')”. Hung Medien. 
  81. ^ “Britain single certifications – Rihanna – Only Girl (In the World)” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Enter Only Girl (In the World) trong khung Search. Chọn Title trong khung Search by. Chọn single trong khung By Format. Nhấn Go
  82. ^ http://www.officialcharts.com/chart-news/the-million-sellers-the-uks-biggest-ever-selling-singles-revealed-1685/
  83. ^ “American single certifications – Rihanna – Only Girl (In the World)” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Single, rồi nhấn SEARCH
  84. ^ Grein, Paul. “Week Ending June 2, 2013. Songs: Robin Thicke & Mom”. Chart Watch. Yahoo! Music. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2013. 
  85. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Singles 2010”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011. 
  86. ^ “Jahreshitparade 2010 – austriancharts.at”. austriancharts.at (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2011. 
  87. ^ “Jaaroverzichten 2010 – Singles”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  88. ^ “Rapports annuels 2010 – Singles”. ultratop.be (bằng tiếng Pháp). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  89. ^ “Track 2010 Top-50”. Tracklisten (bằng Danish). Nielsen Music Control. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2010. 
  90. ^ “Best of 2010: European Hot 100 Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  91. ^ “Classements Annuels 2011”. Disqueenfrance. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  92. ^ “Radios Top 100 2011”. Mahasz. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  93. ^ “>> IRMA << Irish Charts - Best of 2006 >>”. Irma.ie. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2011. 
  94. ^ “dutchcharts.nl – Dutch charts portal”. dutchcharts.nl (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  95. ^ “www.promusicae.org – Spanish Singles – Singles 2010”. Hitlistan.se. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  96. ^ “www.sverigetopplistan.se – Ĺrslista Singlar – Ĺr 2010”. Hitlistan.se. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  97. ^ “Swiss Year-End Charts 2010 - swisscharts.com”. swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  98. ^ “Cardle at No 1 again – Eminem/Rihanna & Take That scoop 2010 crowns”. The Official Charts Company. 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  99. ^ "Top 100 Music Hits, Top 100 Music Charts, Top 100 Songs & The Hot 100: Best of 2010". Billboard.com. Retrieved December 12, 2010.
  100. ^ “Dance Club Songs, Best of 2010, 41–50”. 
  101. ^ “Jahreshitparade 2011 – austriancharts.at”. austriancharts.at (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  102. ^ “Jaaroverzichten 2011 – Singles”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  103. ^ “Rapports annuels 2011 – Singles”. ultratop.be (bằng tiếng Pháp). ULTRATOP & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  104. ^ “Best of 2011: Canadian Hot 100 Songs (21–30)”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  105. ^ http://www.mtv.de/charts/Single_Jahrescharts_2011
  106. ^ a ă “MAHASZ Rádiós TOP 100 2011” (bằng hungarian). Mahasz. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  107. ^ “TOP 50 CANCIONES 2011”. PROMUSICAE. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  108. ^ “Annual 2011”. Hitlistan. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2011. 
  109. ^ “Swiss Year-End Charts 2011”. swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2011. 
  110. ^ http://www.ukchartsplus.co.uk/UKChartsPlusYE2011.pdf
  111. ^ "Top 100 Music Hits, Top 100 Music Charts, Top 100 Songs & The Hot 100: Best of 2011 (31–40)". Billboard.com. Retrieved December 9, 2011.
  112. ^ “Best of 2011: Adult Contemporary Songs (31–40)”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  113. ^ “Best of 2011: Adult Pop Songs (41–50)”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  114. ^ “Best of 2011: Digital Songs”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012. 
  115. ^ “Best of 2011: Pop Songs (31–40)”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  116. ^ http://www.billboard.com/charts/year-end/2011/hot-radio-songs?begin=11&order=position
  117. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Australia”. Itunes. Apple Inc. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010. 
  118. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Denmark”. Itunes. Apple Inc. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  119. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Netherlands”. Itunes. Apple Inc. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  120. ^ “Only Girl (In the World) - Single - New Zealand”. Itunes. Apple Inc. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2010. 
  121. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Canada”. Itunes. Apple Inc. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2010. 
  122. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Finland”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  123. ^ “Only Girl (In the World) - Single - France”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  124. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Italy”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  125. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Norway”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  126. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Portugal”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  127. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Spain”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  128. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Sweden”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  129. ^ “Only Girl (In the World) - Single - Switzerland”. 7Digital. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2010. 
  130. ^ http://www.iguatemifm.com/crbst_6.html
  131. ^ http://gfa.radioandrecords.com/publishGFA/GFANextPage.asp?sDate=09/21/2010&Format=1
  132. ^ http://gfa.radioandrecords.com/publishGFA/GFANextPage.asp?sDate=09/21/2010&Format=9