Sundarban

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Rừng Sundarbans)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rừng Sundarban
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Sun in Sunderbans.jpg
Quốc gia Bangladesh
Kiểu Tự nhiên
Hạng mục ix, x
Tham khảo 798
Vùng UNESCO

Châu Á

Tên chính thức: Rừng bảo tồn Sundarbans
Công nhận: 21 tháng 05 năm 1992[1]
Lịch sử công nhận
Công nhận 1997 (kì thứ 21st)

Rừng Sundarban (Pron:/ˈsʊndəˌbʌnz/) (tiếng Bengal: সুন্দরবন, Shundorbôn) là một trong những khu rừng ngập mặn lớn nhất thế giới.[2] Phần lớn diện tích (hai phần ba diện tích) nằm tại Bangladesh, một phần còn lại trở thành vườn quốc gia Sundarban của Ấn Độ. Cả hai khu vực đã được công nhận là một di sản thế giới của UNESCO phần của Bangladesh vào năm 1997.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Sundarban được dịch nghĩa là "khu rừng đẹp" trong tiếng Bengal (Shundor, "đẹp" và bon, "rừng"). Tên gọi này có thể được bắt nguồn từ Sundari (Heritiera fomes), một loại cây cui có số lượng rất lớn được tìm thấy ở Sundarban.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Làng ở Sunderbans. Vẽ bởi Frederic Peter Layard (1818–1891)
Nhà ở Sundarban với ao nước và ruộng lúa, 2010

Lịch sử của khu vực này có thể truy nguyên tới khoảng năm 200-300 sau CN. Phế tích của một thành phố được Chand Sadagar xây dựng đã được tìm thấy trong khu rừng Baghmara thuộc Sundarban. Trong giai đoạn Mughal, Sundarban được cho dân thuê. Thế kỷ 17, nơi đây bị những tên cướp biển Bồ Đào Nha và những kẻ buôn lậu muối chi phối. Bằng chứng tìm thấy tại Netidhopani và nhiều nơi khác nằm rải rác ở Sundarban. Hệ thống quản lý đường rừng bắt đầu vào những năm 1860 dưới thời thuộc địa Anh sau khi thành lập Cục Kiểm lâm trong tỉnh Bengal với những lao động là người địa phương.

Phân ban quản lý rừng đầu tiên có thẩm quyền quản lý Sundarban được thành lập vào năm 1869. Năm 1875, một phần lớn của rừng ngập mặn được quản lý như là khu dự trữ, quy định trong văn bản luật (Đạo Luật VIII năm 1865). Các phần còn lại của các khu rừng đã được tuyên bố khu dự trữ vào các năm sau đó, được quản lý bởi chính quyền dân sự cấp huyện, nhưng vẫn được đặt dưới sự kiểm soát của Cục Kiểm lâm.

Năm 1911, nơi đây đã được mô tả như là một dải đất bỏ hoang trải dài 266 km từ cửa sông Meghna tới các huyện Parganas, KhulnaBakerganj. Tổng diện tích (kể cả mặt nước) đã được ước tính khoảng 16.902 km2. Nó là một khu rừng rậm nhiệt đới úng nước, trong đó nhan nhản hổ và các loài thú hoang dã khác. Các cố gắng khai phá không được thành công cho lắm. Ở khắp mọi nơi Sundarban bị chia cắt bởi các con sông và kênh rạch, với một số là phù hợp cho giao thông đường thủy đối với cả tàu hơi nước và thuyền của dân bản địa qua lại.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sundarban nằm trong vùng đồng bằng rộng lớn ven vịnh Bengal, được hình thành bởi hợp lưu của sông Hằng, BrahmaputraMeghna, miền Nam Bangladesh và Đông Ấn Độ. Đây là rừng ngập mặn cửa sông lớn nhất thế giới bao gồm khu vực ngập nước theo mùa bao gồm rừng và đầm lầy nước ngọt nằm trong nội địa, còn rừng ngập mặn ở rìa ven biển. Tổng diện tích bao gồm 10.000 km², trong đó khoảng 6.000 km² là ở Bangladesh.

Phần thuộc Ấn Độ được ghi vào danh sách di sản thế giới vào năm 1987 trong khi khu vực thuộc Bangladesh vào danh sách di sản thế giới vào năm 1997 và là một khu dự trữ sinh quyển thế giới. Sundarbans được ước tính là khoảng 4.110 km², trong đó khoảng 1.700 km² khu vực ngập nước bởi các con sông, kênh, mương lạch.

Sundarban được giao nhau bởi một mạng lưới phức tạp của các bãi triều, bãi bùn và các hòn đảo nhỏ của rừng ngập mặn. Mạng kết nối với nhau đường thủy làm cho hầu như mọi ngóc ngách của khu vực có thể đi được bằng thuyền nhỏ. Đây là nơi sinh sống của loài hổ Bengal ( Panthera tigris tigris), cũng như các loài động vật quý hiếm bao gồm: các loài chim, hươu, cá sấu và trăn. Ngoài ra, Sundarban là một khu vực sinh thái quan trọng như là một hàng rào bảo vệ cho hàng triệu người dân ở KhulnaMongla trước lũ lụt và các cơn bão nhiệt đới. Sundarban cũng đã là một địa điểm lọt vào tới vòng chung kết 7 kỳ quan thiên nhiên.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là môi trường tự nhiên của rất nhiều các loài động thực vật với những bãi biển, khu vực cửa sông, đầm lầy, bãi triều, lạch thủy triều, cồn cát ven biển... được hỗ trợ bởi thảm thực vật bãi bồi, rừng ngập mặn giữ trầm tích.

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Hai vùng sinh thái chủ yếu ở Sundarban bao gồm rừng ngập mặnrừng đầm lầy.

Rừng ngập mặn[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng sinh thái rừng ngập mặn Sundarban nằm tại vùng đồng bằng ven bờ biển và là hệ sinh thái rừng ngập mặn lớn nhất thế giới [3][4][5], với diện tích 20.400 km² [6] bao gồm số lượng lớn các loài: Heritiera fomes (cây sundari/cui Nam Á, một loài thực vật bản địa điển hình). Bên cạnh đó là các loài khác tạo nên sự đa dạng bao gồm các loài thuộc chi Mắm (Avicennia spp.), su Mê Kông (Xylocarpus mekongensis), su ổi (Xylocarpus granatum), bần vô cánh (Sonneratia apetala), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), dà quánh (Ceriops decandra), (Aegiceras corniculatum), đước xanh (Rhizophora mucronata), và dừa nước (Nypa fruticans).[7]

Rừng đầm lầy nước ngọt[sửa | sửa mã nguồn]

Sundarban một vài tháng sau bão Sidr
Bãi bùn ở Sundarban

Rừng đầm lầy nước ngọt Sundarban là một vùng sinh thái rừng nhiệt đới ẩm, lá rộng của Bangladesh. Nó tương ứng với các khu rừng đầm lầy nước lợ nằm phía trong rừng ngập mặn Sundarban, với độ mặn thấp hơn. Vùng sinh thái nước lợ này trở nên ngọt hơn trong mùa mưa, khi nước từ sông Hằng và sông Brahmaputra đổ ra biển, đẩy nước mặn xâm lấn ra ngoài và kéo theo lượng phù sa màu mỡ. Diện tích của vùng rừng này là 14.600 km² ở vùng đồng bằng sông Hằng-Brahmaputra, kéo dài từ phía bắc huyện Khulna tới cửa vịnh Bengal với một phần mở rộng thưa thớt tới bang Tây Bengal của Ấn Độ. Rừng đầm lầy nước ngọt Sundarban nằm giữa vùng rừng ẩm lá sớm rụng đồng bằng hạ lưu sông Hằng ở vùng đất cao và rừng ngập mặn Sundarban có ranh giới với vịnh Bengal.[8]

Là nạn nhân của đốn hạ và định cư quy mô lớn để hỗ trợ cho một trong những quần thể dân cư đông đúc nhất ở châu Á, vùng sinh thái này đang đứng trước nguy cơ lớn của sự tuyệt chủng. Hàng trăm năm cư trú và khai thác đã gây ra những thiệt hại nặng nề cho môi trường sống và sự đa dạng sinh học của khu vực sinh thái này. Có hai khu vực được bảo vệ - Narendrapur (110 km²) và Ata Danga Baor (20 km²) bao phủ chỉ 130 km² của vùng sinh thái. Mất môi trường sống trong vùng sinh thái này là quá rộng khắp, và môi trường sống còn lại là quá phân mảnh nên rất khó để xác định thành phần của thảm thực vật ban đầu. Theo Champion và Seth (1968), rừng đầm lầy nước ngọt được đặc trưng bởi Heritiera minor, Xylocarpus molluccensis, Bruguiera conjugata, Sonneratia apetala, Mắm đen (Avicennia officinalis), Bần chua (Sonneratia caseolaris); với Pandanus tectorius, Tra làm chiếu (Hibiscus tiliaceus) và Nipa fruticans ở ven rìa.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ ở đây khoảng từ 20 °C - 48 °C, lượng mưa lớn, độ ẩm cao tới 80% do có vị trí gần vịnh Bengal. Gió mùa kéo dài từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 9. Gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến giữa tháng 3 còn gió mùa Tây Nam chiếm ưu thế từ giữa tháng 3 đến tháng 9. Bão thường xuất hiện trong giai đoạn từ tháng 5 tới tháng 10.

Động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm thực vật ngập mặn Sundarban bao gồm 64 loài thực vật có khả năng sống được trong môi trường nước ở cửa sông và ngập mặn. Vào tháng 4, tháng 5, khu rừng ngập màu sắc với màu lá đỏ của trà mủ (Excoecaria agallocha), những bông hoa đỏ của vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), màu vàng của (Aegiceras corniculatum)... và một số loài cây khác như su ổi (Xylocarpus granatum), su Mê Kông (Xylocarpus mekongensis), đước (Rhizophora spp.), cui Nam Á/sundari (Heritiera fomes) và dà quánh (Ceriops decandra).

Động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Sundarban là nơi sinh sống của hơn 400 con hổ Bengal. Chúng sinh sống và phát triển, thích ứng với việc bơi lội, di chuyển trong vùng ngập nước.

Ngoài ra là rất nhiều các loài quý hiếm bao gồm: mèo cá, mèo báo, mèo ri, khỉ, heo rừng, cầy xám Ấn Độ, cáo, cáo bay, tê tê, hươu đốm và nhiều loài khác cũng được tìm thấy trong sự phong phú trong Sundarban.

Vườn quốc gia phong phú với các loài chim như cò nhạn, cò quăm đầu đen, gà nước, sâm cầm, gà lôi nước, diều hâu đen, diều lửa, diều mướp đầm lầy, gà gô đầm lầy, diệc, gà rừng lông đỏ, cu gáy, sáo nâu, quạ đen, khướu Jungle, le khoang cổ, nhàn Caspia, diệc xám, dẽ giun thường, choắt bụng xám, cu xanh, vẹt cổ hồng, Terpsiphone, chim cốc, diều cá đầu xám, đại bàng bụng trắng, mòng biển, bồng chanh, cắt lớn, gõ kiến, Choắt mỏ cong bé, chim Godwit đuôi đen, dẽ nhỏ, dẽ lớn ngực đốm, vịt mốc, choi choi vàng, vịt nâu đỏ, le nâu.

Bò sát và lưỡng cư phong phú đa dạng bao gồm cá sấu nước mặn, trăn, rắn, ếch cây cùng rất nhiều các loài có nguy cơ tuyệt chủng như: cá heo sông Hằng, rùa đất, rùa biển.

Nghiên cứu thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ramsar List”. Ramsar.org. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  2. ^ a ă Pasha, Mostafa Kamal; Siddiqui, Neaz Ahmad (2003). “Sundarbans”. Trong Islam, Sirajul. Banglapedia: national chakra encyclopedia of Bangladesh chakra. Dhaka: Asiatic Society of Bangladesh. ISBN 984-32-0576-6. 
  3. ^ The Sundarban: The beauty of nature and the challenges of climate change - Dr Ezaz Mamun, priyoaustralia.com.au.
  4. ^ Tapping the sun in the world's largest mangrove ecosystem, Brunei Times.
  5. ^ Sundarbans Programme, WWFindia.org
  6. ^ Sunderban Ecoregions, Geological Survey of India, Ministry of Mines, Government of India.
  7. ^ “Sundarbans Mangroves”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. 
  8. ^ “Sundarbans freshwater swamp forests”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 21°56′B 88°51′Đ / 21,933°B 88,85°Đ / 21.933; 88.850