USS Worcester (CL-144)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Worcester 0414407.jpg
Tàu tuần dương USS Worcester (CL-144)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Worcester
Đặt lườn: 29 tháng 1 năm 1945
Hạ thủy: 4 tháng 2 năm 1947
Đỡ đầu bởi: Cô Gloria Ann Sullivan
Nhập biên chế: 26 tháng 6 năm 1948
Xuất biên chế: 19 tháng 12 năm 1958
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12 năm 1970
Danh hiệu và
phong tặng:
2 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bán để tháo dỡ 5 tháng 7 năm 1972
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Worcester
Trọng tải choán nước: 13.000 tấn Anh (13.000 t) (tiêu chuẩn)
17.997 tấn Anh (18.286 t) (đầy tải)
Độ dài: 680 ft (210 m)
Sườn ngang: 71 ft (22 m)
Mớn nước: 26 ft (7,9 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số General Electric;
4 × nồi hơi Westinghouse, áp lực 620 psi (4.300 kPa);
4 × trục;
công suất 125.000 hp (93.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm hoạt động: 8.000 nmi (15.000 km) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.401 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber Mark XVI đa dụng (6×2);
22 × pháo 3 in (76 mm)/50 caliber Mk 27 phòng không (11×2);

2 × pháo 3 in (76 mm)/50 caliber Mk 33 phòng không (2×1)
Bọc giáp:

đai giáp: 3–5 in (76–127 mm);
sàn tàu: 3,5 in (89 mm);
tháp pháo: 2–6,5 in (51–165 mm)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ];
bệ tháp pháo: 5 in (130 mm);

tháp chỉ huy: 4,5 in (110 mm)
Máy bay mang theo:

Thủy phi cơ Curtiss SC-1 Seahawk (1948-1949);
Máy bay trực thăng Sikorsky HO3-S Dragonfly (từ 1949);

Mục tiêu giả "Denny" (từ 1949)

USS Worcester (CL-144), tên được đặt theo thành phố Worcester thuộc tiểu bang Massachusetts, là chiếc dẫn đầu của lớp tàu tuần dương hạng nhẹ mang tên nó của Hải quân Hoa Kỳ, mà hầu hết bị hủy bỏ do Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, và là một trong những tàu tuần dương toàn súng lớn cuối cùng của Hải quân Mỹ. Mặc dù là tàu tuần dương hạng nhẹ về phương diện kỹ thuật do được trang bị pháo 6 in (152 mm), trong thực tế nó là một trong những tàu tuần dương lớn nhất từng được chế tạo. Kết hợp độ cơ động của tàu khu trục với kích cỡ tàu tuần dương cùng dàn pháo chính không chỉ đối đầu hiệu quả với mục tiêu mặt biển mà với cả máy bay, Worcester bao gồm nhiều bài học có được trong cuộc chiến tranh.

Worcester được đặt lườn vào ngày 29 tháng 1 năm 1945 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 2 năm 1947, được đỡ đầu bởi Cô Gloria Ann Sullivan, ái nữ Thị trưởng thành phố Worcester F. G. Sullivan, và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 26 tháng 6 năm 1948 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân T. B. Dugan.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1959-1950[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Đội Tuần dương 10, Worcester trải qua năm phục vụ đầu tiên tiến hành các hoạt động trang bị, chạy thử máy và huấn luyện dọc theo bờ biển phía Đông Hoa Kỳ. Vào mùa Hè năm 1949 nó tham gia cuộc thực tập huấn luyện quy mô lớn đầu tiên tại vịnh Guatánamo, Cuba và viếng thăm Kingston, Jamaica. Vào cuối mùa Hè, nó lên đường đi sang Địa Trung Hải, rời Newport, Rhode Island ngày 6 tháng 9 năm 1949 và đi đến Gibraltar 10 ngày sau đó. Chiếc tàu tuần dương được bố trí lượt hoạt động đầu tiên cùng Đệ Lục hạm đội trong những tháng tiếp theo, tham gia các cuộc thực tập và cơ động cùng lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh, bao gồm tàu sân bay Leytetàu tuần dương hạng nặng Des Moines; đồng thời đã viếng thăm Malta; Bizerte, Tunisia; Golfe-Juan, Pháp; Argostolivịnh Phaleron, Hy Lạp; Iskenderum, Thổ Nhĩ Kỳ; TriesteVenice, Ý và Gibraltar. Nó quay trở về Norfolk vào ngày 10 tháng 12.

USS Worcester trên đường đi trong biển Địa Trung Hải, năm 1953.

Worcester hoạt động ngoài khơi bờ Đông trải từ Newport đến Norfolk, Virginia, về phía Nam cho đến Puerto Rico, và từng ghé thăm Philadelphia, trước khi nó bắt đầu lượt bố trí hoạt động thứ hai cùng Đệ Lục hạm đội vào mùa Xuân năm 1950. Nó rời Norfolk vào ngày 3 tháng 5, đi đến Lisbon, Bồ Đào Nha vào ngày 13 tháng 5, và tiến vào Địa Trung Hải không lâu sau đó. Giữa các đợt huấn luyện và tập trên, con tàu đã ghé thăm Augusta, Sicilia; Bizerte; GenoaLa Spezia, Ý; và Golfe Juan tại bờ biển phía Nam nước Pháp, trước khi đi vào vịnh Phaleron vào ngày 20 tháng 7. Tuy nhiên nó chỉ ở lại đây một tuần trước khi được lệnh lên đường đi sang Viễn Đông. Trong khi chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ và các tàu tháp tùng hoạt động tại Địa Trung Hải, chiến tranh đã nổ ra tại Triều Tiên vào ngày 25 tháng 6. Vì vậy, Worcester khởi hành từ vịnh Phaleron vào ngày 27 tháng 7 cùng với Đội Khu trục 21, bao gồm các tàu khu trục hộ tống Fred T. Berry, Keppler, NorrisMcCaffrey. Đi đến Port Said thuộc Ai Cập sáng ngày 29 tháng 7, nó đi qua kênh đào Suez xế chiều hôm đó.

Đến Colombo thuộc Sri Lanka, Worcester và các tàu hộ tống tạm dừng từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 8 để tiếp tế và tiếp nhiên liệu trước khi tiếp tục di chuyển hướng đến eo biển Malacca. Chúng tiếp tục đi băng qua eo biển Bashi để hướng đến vịnh Buckner, Okinawa, đến nơi vào ngày 19 tháng 8. Trên đường đi, các tàu chiến Mỹ đã chuyển hướng ngang qua Bashi sẵn sàng đánh trả mọi ý định xâm chiếm Đài Loan của lực lượng cộng sản Trung Quốc. Sau khi được tiếp nhiên liệu từ tàu chở dầu Navasota, Worcester rời vịnh Buckner vào ngày 20 tháng 8 năm 1950 hướng đến Keelung, Đài Loan để gia nhập lực lượng Tuần tra Đài Loan.

Gia nhập đơn vị này vào ngày 21 tháng 8, chiếc tàu tuần dương tiếp tục neo đậu tại Keelung từ ngày 22 đến ngày 26 tháng 8 trước khi lên đường vào ngày 27 tháng 8 sử dụng khả năng phòng không mạnh mẽ của nó hộ tống cho Lực lượng Đặc nhiệm 77, một đơn vị đặc nhiệm tàu sân bay nhanh bao gồm các tàu sân bay Philippine SeaValley Forge, để hoạt động trong vùng biển Hoàng Hải dọc bờ biển Triều Tiên.

Chiến tranh Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

1951-1958[sửa | sửa mã nguồn]

Quay trở về Philadelphia vào ngày 21 tháng 11 năm 1950 qua ngã Trân Châu Cảng và kênh đào Panama, Worcester trải qua sáu ngày tại Norfolk, từ ngày 23 đến ngày 29 tháng 11, trước khi được đại tu tại Xưởng hải quân Boston từ ngày 1 tháng 12 năm 1950 đến ngày 20 tháng 3 năm 1951. Sau một giai đoạn ở lại Norfolk từ ngày 22 đến ngày 30 tháng 3, chiếc tàu tuần dương tiến hành huấn luyện ôn tập tại vùng biển vịnh Guantánamo, Cuba trong gần một tháng trước khi quay trở lại Norfolk. Rời cảng vào ngày 15 tháng 5, Worcester hướng sang Địa Trung Hải cho lượt bố trí hoạt động thứ ba cùng Đệ Lục hạm đội.

Worcester còn được bố trí hoạt động cùng Đệ Lục hạm đội thêm bốn lượt khác cho đến giữa những năm 1950, và đã hai lượt viếng thăm các cảng Bắc Âu. Trong thời gian này, nó tham gia các cuộc cơ động hạm đội và thực tập, cũng như các chuyến viếng thăm hữu nghị các cảng, trải rộng từ Bergen, Na Uy; Copenhagen, Đan Mạch; Dublin, Ireland; đến Portsmouth, Anh Quốc. Xen kẻ giữa các lượt bố trí ở nước ngoài là các hoạt động gần cảng nhà dọc theo bờ Đông như Boston và Norfork, cũng như tại vùng nước ấm của biển CaribeTây Ấn, trải dài từ vịnh Guatánamo cho đến Kingston, Jamaica.

Được điều động từ Đại Tây Dương sang khu vực Thái Bình Dương vào tháng 1 năm 1956, Worcester được bố trí thêm hai lượt phục vụ khác cùng Đệ Thất hạm đội và từng ghé thăm các cảng Viễn Đông Hong Kong; Manila; cũng như các cảng Nhật Bản Sasebo, Yokosuka, Hakodate, Nagasaki, Shimoda, Yokohama và Kobe. Quay về Long Beach, California giữa hai lượt bố trí, chiếc tàu tuần dương tiến hành các hoạt động tại chỗ trong vùng bờ Tây.

Ngừng hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1958, Worcester rời Long Beach đi đến Xưởng hải quân Mare Island tiến hành những chuẩn bị ngừng hoạt động. Nó ngừng hoạt động tại Mare Island vào ngày 19 tháng 12 năm 1958 và được đưa về lực lượng dự bị. Worcester được cho neo đậu tại San Francisco và sau đó chuyển đến Bremerton, Washington, bị bỏ không cho đến khi được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 12 năm 1970. Nó được bán cho hãng Zidell Explorations, Inc. tại Portland, Oregon vào ngày 5 tháng 7 năm 1972 để tháo dỡ.

Khoảng 200 tấn vỏ giáp của nó đã được gửi đến Phòng thí nghiệm Gia tốc Quốc gia FermiBatavia, Illinois, phía Tây Chicago; được sử dụng như những tấm chắn hấp thu phóng xạ trong các thí nghiệm gia tốc hạt

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Worcester được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]