USS Wright (CVL-49)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Wright
Tàu sân bay hạng nhẹ USS Wright (CVL-49) vào đầu những năm 1950
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Wright
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Corporation, Camden, New Jersey
Đặt lườn: 21 tháng 8 năm 1944
Hạ thủy: 1 tháng 9 năm 1945
Nhập biên chế: 9 tháng 2 năm 1947
Tái biên chế: 11 tháng 5 năm 1963
Xuất biên chế: 15 tháng 3 năm 1956
27 tháng 5 năm 1970
Xếp lớp lại: AVT-7, 15 tháng 5 năm 1959,
CC-2, 15 tháng 3 năm 1962
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12 năm 1977
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 1980
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Saipan
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn);
19.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 684 ft (208 m)
Sườn ngang: 76,8 ft (23,4 m) (mực nước)
115 ft (35 m) (chung)
Mớn nước: 28 ft (8,5 m)
Động cơ đẩy: Turbine hôp số hơi nước
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 kn (61 km/h)
Thủy thủ đoàn: 1.787 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 42 × pháo phòng không Bofors 40 mm (5×4, 11×2)
16 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng kép
Máy bay mang theo: 42: 18 máy bay tiêm kích F6F Hellcat
12 máy bay ném bom bổ nhào SB2C Helldiver
12 máy bay ném bom ngư lôi TBM Avenger

USS Wright (CVL-49/AVT-7/CC-2) là một tàu sân bay hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp tàu sân bay Saipan vốn còn bao gồm chiếc Saipan. Tên của nó được đặt nhằm tôn vinh cả hai anh em Orville và Wilbur Wright,[Ghi chú 1] những người đi tiên phong trong lĩnh vực hàng không.[1] Nó chỉ phục vụ như một tàu sân bay trong một thời gian ngắn trước khi được xếp lại lớp như một tàu chỉ huy CC-2 vào năm 1962. Nó ngừng hoạt động vào năm 1970 và bị bán để tháo dỡ vào năm 1980.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Wright được đặt lườn vào ngày 21 tháng 8 năm 1944 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 1 tháng 9 năm 1945, được đỡ đầu bởi một người cháu gái của anh em Orville và Wilbur Wright, và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 9 tháng 2 năm 1947 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Frank T. Ward.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu sân bay huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Wright khởi hành từ Philadelphia vào ngày 18 tháng 3 năm 1947, dừng lại một chặng ngắn ở Norfolk, Virginia trước khi tiếp tục đi đến Căn cứ Huấn luyện Không lực Hải quân ở Pensacola, Florida. Đến nơi vào ngày 31 tháng 3, nó nhanh chóng thực hiện một lịch thực hành phòng không và tác xạ chặt chẽ trong khi hoạt động như một tàu sân bay chuẩn nhận cho hàng trăm phi công học viên tại căn cứ. Nó thực hiện 40 chuyến đi huấn luyện kéo dài từ một đến bốn ngày dọc theo bờ biển Florida; ngoài ra chiếc tàu sân bay còn huấn luyện cho tổng cộng 1.081 lượt sĩ quan Hải quân Dự bị trong những đợt huấn luyện ôn tập kéo dài ba tuần.

Vào ngày 3 tháng 9 năm 1947, Wright đón lên tàu 48 học viên mới cho nhiệm vụ huấn luyện tạm thời, rồi sau đó tiếp đón 62 sĩ quan Lục quân khi nó lên đường ra khơi cùng với tàu khu trục Forrest Royal vào ngày 15 tháng 10 để các vị khách chứng kiến các hoạt động không lực tại khu vực Pensacola. Các cuộc tập dượt còn bao gồm việc phóng kiểu máy bay tiêm kích cánh quạt Grumman F6F Hellcat cho các hoạt động bắn rocket.

Wright khởi hành từ Pensacola vào ngày 24 tháng 10 để đi lên phía Bắc, đến Xưởng hải quân Philadelphia không lâu sau đó để trải qua một đợt sửa chữa và cải biến sau thử máy từ ngày 1 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12, trước khi quay trở lại Pensacola hai ngày trước lễ Giáng sinh, nơi nó tiếp tục các hoạt động chuẩn nhận phi công tàu sân bay thường lệ trong suốt năm 1948 trước khi đi đến Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 26 tháng 1 năm 1949 cho một đợt đại tu kéo dài bốn tháng.

Sau khi huấn luyện ôn tập tại vùng biển Cuba, Wright quay trở về Norfolk vào ngày 1 tháng 8, 1949, rồi chuyển đến Newport, Rhode Island bốn ngày sau đó cho một lượt huấn luyện chống tàu ngầm tại khu vực vịnh Narragansett cùng với tàu ngầmtàu khu trục. Nó cũng viếng thăm New York trước khi thực hiện kế hoạch đều đặn chuẩn nhận tàu sân bay, chiến thuật phòng không và thực hành ngoài khơi Quonset Point, Rhode Island, Key West và Pensacola. Sau 10 ngày cơ động cùng Hạm đội Đặc nhiệm 2 từ ngày 21 đến ngày 31 tháng 10, 1949, nó tiếp tục nhiệm vụ này cho đến ngày 7 tháng 1, 1951, khi nó đón lên tàu nhân sự của Liên đội Tiêm kích VF 14 làm nhiệm vụ tạm thời.

Phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội[sửa | sửa mã nguồn]

Wright khởi hành từ Norfolk vào ngày 11 tháng 1, 1952 cùng một đội đặc nhiệm tàu sân bay nhanh, và đi đến Gibraltar vào ngày 21 tháng 1 cho lượt phục vụ đầu tiên cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải. Nó đi từ Gibraltar đến Oran, Algeria, rồi tiếp tục ghé qua vịnh Augusta, Sicily; vịnh Suda, Crete; Beirut, Lebanonvịnh Juan, Pháp, các cảng dừng tiếp liệu trong chuỗi hoạt động huấn luyện và tập trận không ngừng cùng Đệ Lục hạm đội. Rời vịnh Juan vào ngày 19 tháng 3, nó quay về Newport vào ngày 31 tháng 3, rồi đi vào Xưởng hải quân Norfolk để đại tu trước khi tham gia cuộc cơ động của Hạm đội Đại Tây Dương ngoài khơi vịnh Guantánamo, Cuba, tham gia các hoạt động chiến thuật chống tàu ngầm và hoạt động tàu sân bay tại vịnh Narragansett, được sửa chữa bổ sung tại Xưởng hải quân Boston, và tham gia thực tập hộ tống vận tải từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 21 tháng 3, 1952; nó đã hoạt động suốt trong khu vực trải rộng từ Newport đến khu vực kênh đào Panama và vùng biển Trinidad tại Tây Ấn thuộc Anh.

Trong vai trò soái hạm của Đội tàu sân bay 14, Wright khởi hành vào ngày 9 tháng 6, 1952 cùng bốn tàu khu trục vốn hình thành nên Đội đặc nhiệm 81.4 cho các hoạt động chống tàu ngầm dọc ờ biển Đại tây Dương cho đến ngày 27 tháng 6, khi nó về đến New York. Quay trở lại Quonset Point vào ngày 1 tháng 7, nó huấn luyện các đơn vị thuộc Hải quân Dự bị Hoa Kỳ trong các hoạt động tìm-diệt và huấn luyện phi công ngoài khơi vịnh Narragansett cho đến ngày 26 tháng 8. Vào ngày đó, nó khởi hành từ Quonset Point để gặp gỡ Hạm đội Đặc nhiệm 2 dưới quyền Phó đô đốc Felix Stump trên đường đi sang Bắc Âu cho các cuộc tập trận và cơ động phối hợp với các đơn vị hải quân của các nước trong khối NATO.

Trên đường đi, nó được cho tách ra cùng với tàu khu trục Forrest Royal để đưa nhân sự và trang bị của Liên đội Tiêm kích Đêm Thủy quân Lục chiến VMF(N) 114 đến cảng Lyautey, Morocco; nhiệm vụ hoàn tất vào ngày 4 tháng 9. Hai ngày sau, nó cùng tàu hộ tống gia nhập trở lại lực lượng đặc nhiệm; và chúng đi đến Firth of Clyde, Scotland vào ngày 10 tháng 9. Ba ngày sau, nó ra khơi cùng hai tàu khu trục Anh hoạt động như tàu canh phòng máy bay cho Chiến dịch Mainbrace của khối NATO. Nó tiến hành các cuộc cơ động phòng thủ và phát triển chiến thuật cùng các tàu sân bay Anh HMS IllustriousHMS Eagle trên đường đi đến Rotterdam, Hà Lan, nơi lực lượng đến nơi vào ngày 25 tháng 9. Đến ngày 29 tháng 9, nó rời Rotterdam quay về Hoa Kỳ, về đến Newport vào ngày 9 tháng 10.

Ngày hôm đó, nó đón lên tàu Chuẩn đô đốc W. L. Erdman, Tư lệnh Đội tàu sân bay 4, và trải qua những tháng tiếp theo làm nhiệm vụ chuẩn nhận tàu sân bay tại các vùng biển kéo dài từ Newport đến Virginia Capes, trước khi thực hiện lượt hoạt động thứ hai tại Địa Trung Hải. Nó đi đến vịnh Juan vào ngày 21 tháng 2, 1953 và hoạt động cùng Đệ Lục hạm đội cho đến ngày 31 tháng 3, khi nó lên đường quay về nhà ngang qua quần đảo Azores. Nó quay trở lại Newport, và sau một giai đoạn huấn luyện tại vịnh Narragansett lại lên đường vào ngày 5 tháng 5 đi vịnh Mexico. Trong chuyến đi huấn luyện này, nó viếng thăm Houston, Texas, nơi nó đón tiếp khoảng 14.000 khách tham quan trong các ngày 1617 tháng 4. Quay trở về Quonset Point vào ngày 28 tháng 5, nó hoạt động tại chỗ trong một tháng trước khi đi về phía Nam để hoạt động ngoài khơi Mayport, Florida.

Phục vụ cùng Đệ Thất hạm đội[sửa | sửa mã nguồn]

Wright được đại tu tại Xưởng hải quân Philadelphia từ ngày 31 tháng 7 đến ngày 21 tháng 11, 1953, rồi tiến hành huấn luyện ôn tập tại vùng biển Cuba từ ngày 4 tháng 1 đến ngày 16 tháng 2, 1954. Sau khi rời Davisville, Rhode Island vào ngày 5 tháng 4, nó lên đường đi sang Viễn Đông, đi ngang kênh đào Panama, San Diego, CaliforniaTrân Châu Cảng, và đi đến Yokosuka, Nhật Bản vào ngày 28 tháng 5. Chiếc tàu sân bay, với Liên đội Cường kích Thủy quân Lục chiến 211 trên tàu, hoạt động cùng Đệ Thất hạm đội trên cả hai phía bờ biển của bán đảo Triều Tiên và ngoài khơi Okinawa trước khi viếng thăm Hong Kong từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 9. Rời Yokosuka vào ngày 15 tháng 10, nó về đến San Diego vào ngày 31 tháng 10 và đi vào Xưởng hải quân Long Beach nơi nó ở lại cho đến ngày 23 tháng 2, 1955.

Vào lúc đó, Wright được phối thuộc cùng Đội tàu sân bay 17 trực thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, và hoạt động tại chỗ ngoài khơi San Diego cho đến ngày 3 tháng 5, khi nó ra khơi trong thành phần Đội đặc nhiệm 7.3, được hình thành chung quanh soái hạm Mount McKinley, cho một cuộc thử nghiệm bom nguyên tử, Chiến dịch Wigwam, được tiến hành tại vùng biển Thái Bình Dương. Quay trở về vùng bờ Tây vào ngày 20 tháng 5, Wright sau đó đi đến Trân Châu Cảng một giai đoạn ngắn trước khi đi vào Xưởng hải quân Mare Island vào ngày 14 tháng 7 tiến hành các chuẩn bị để ngưng hoạt động. Sau khi chuyển đến Xưởng hải quân Puget Sound, Bremerton, Washington vào ngày 17 tháng 10 cho giai đoạn cuối cùng của việc chuẩn bị, Wright được cho xuất biên chế tại Puget Sound vào ngày 15 tháng 3, 1956, và được đưa về đội Bremerton trực thuộc Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương.

Xếp lại lớp như tàu chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

USS Wright như là tàu chỉ huy CC-2, ngoài khơi phía Nam California, tháng 9, 1963

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ USS Wright (AZ-1), chiếc tàu đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, chỉ được đặt theo tên của Orville Wright.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wright. Dictionary of American Naval Fighting Ships. Naval History & Heritage Command.  Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp)

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]