USS Wright (CVL-49)
Tàu sân bay hạng nhẹ USS Wright (CVL-49) vào đầu những năm 1950 |
|
| Phục vụ (Hoa Kỳ) | |
|---|---|
| Tên gọi: | USS Wright |
| Hãng đóng tàu: | New York Shipbuilding Corporation, Camden, New Jersey |
| Đặt lườn: | 21 tháng 8 năm 1944 |
| Hạ thủy: | 1 tháng 9 năm 1945 |
| Nhập biên chế: | 9 tháng 2 năm 1947 |
| Tái biên chế: | 11 tháng 5 năm 1963 |
| Xuất biên chế: | 15 tháng 3 năm 1956 27 tháng 5 năm 1970 |
| Xếp lớp lại: | AVT-7, 15 tháng 5 năm 1959, CC-2, 15 tháng 3 năm 1962 |
| Xóa đăng bạ: | 1 tháng 12 năm 1977 |
| Số phận: | Bị bán để tháo dỡ, 1980 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp và kiểu: | Lớp tàu sân bay Saipan |
| Trọng tải choán nước: | 14.500 tấn (tiêu chuẩn); 19.000 tấn (đầy tải) |
| Độ dài: | 684 ft (208 m) |
| Sườn ngang: | 76,8 ft (23,4 m) (mực nước) 115 ft (35 m) (chung) |
| Mớn nước: | 28 ft (8,5 m) |
| Động cơ đẩy: | Turbine hôp số hơi nước công suất 120.000 mã lực (89,5 MW) |
| Tốc độ: | 33 kn (61 km/h) |
| Thủy thủ đoàn: | 1.787 sĩ quan và thủy thủ |
| Vũ trang: | 42 × pháo phòng không Bofors 40 mm (5×4, 11×2) 16 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng kép |
| Máy bay mang theo: | 42: 18 máy bay tiêm kích F6F Hellcat 12 máy bay ném bom bổ nhào SB2C Helldiver 12 máy bay ném bom ngư lôi TBM Avenger |
USS Wright (CVL-49/AVT-7/CC-2) là một tàu sân bay hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp tàu sân bay Saipan vốn còn bao gồm chiếc Saipan. Tên của nó được đặt nhằm tôn vinh cả hai anh em Orville và Wilbur Wright,[Ghi chú 1] những người đi tiên phong trong lĩnh vực hàng không.[1] Nó chỉ phục vụ như một tàu sân bay trong một thời gian ngắn trước khi được xếp lại lớp như một tàu chỉ huy CC-2 vào năm 1962. Nó ngừng hoạt động vào năm 1970 và bị bán để tháo dỡ vào năm 1980.
Mục lục |
Thiết kế và chế tạo [sửa]
Wright được đặt lườn vào ngày 21 tháng 8 năm 1944 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Corporation ở Camden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 1 tháng 9 năm 1945, được đỡ đầu bởi một người cháu gái của anh em Orville và Wilbur Wright, và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 9 tháng 2 năm 1947 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Frank T. Ward.
Lịch sử hoạt động [sửa]
Tàu sân bay huấn luyện [sửa]
Wright khởi hành từ Philadelphia vào ngày 18 tháng 3 năm 1947, dừng lại một chặng ngắn ở Norfolk, Virginia trước khi tiếp tục đi đến Căn cứ Huấn luyện Không lực Hải quân ở Pensacola, Florida. Đến nơi vào ngày 31 tháng 3, nó nhanh chóng thực hiện một lịch thực hành phòng không và tác xạ chặt chẽ trong khi hoạt động như một tàu sân bay chuẩn nhận cho hàng trăm phi công học viên tại căn cứ. Nó thực hiện 40 chuyến đi huấn luyện kéo dài từ một đến bốn ngày dọc theo bờ biển Florida; ngoài ra chiếc tàu sân bay còn huấn luyện cho tổng cộng 1.081 lượt sĩ quan Hải quân Dự bị trong những đợt huấn luyện ôn tập kéo dài ba tuần.
Vào ngày 3 tháng 9 năm 1947, Wright đón lên tàu 48 học viên mới cho nhiệm vụ huấn luyện tạm thời, rồi sau đó tiếp đón 62 sĩ quan Lục quân khi nó lên đường ra khơi cùng với tàu khu trục Forrest Royal vào ngày 15 tháng 10 để các vị khách chứng kiến các hoạt động không lực tại khu vực Pensacola. Các cuộc tập dượt còn bao gồm việc phóng kiểu máy bay tiêm kích cánh quạt Grumman F6F Hellcat cho các hoạt động bắn rocket.
Wright khởi hành từ Pensacola vào ngày 24 tháng 10 để đi lên phía Bắc, đến Xưởng hải quân Philadelphia không lâu sau đó để trải qua một đợt sửa chữa và cải biến sau thử máy từ ngày 1 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12, trước khi quay trở lại Pensacola hai ngày trước lễ Giáng sinh, nơi nó tiếp tục các hoạt động chuẩn nhận phi công tàu sân bay thường lệ trong suốt năm 1948 trước khi đi đến Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 26 tháng 1 năm 1949 cho một đợt đại tu kéo dài bốn tháng.
Tham khảo [sửa]
Ghi chú [sửa]
- ^ USS Wright (AZ-1), chiếc tàu đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, chỉ được đặt theo tên của Orville Wright.
Chú thích [sửa]
Thư mục [sửa]
- Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng: http://www.history.navy.mil/danfs/w11/wright-ii.htm
|
|||||||||||