USS Saipan (CVL-48)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Saipan
Tàu sân bay hạng nhẹ USS Saipan trên đường đi, vào khoảng năm 1956
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Saipan
Đặt tên theo: Trận Saipan
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Corporation, Camden, New Jersey
Đặt lườn: 10 tháng 7 năm 1944
Hạ thủy: 8 tháng 7 năm 1945
Đỡ đầu bởi: John W. McCormack
Nhập biên chế: 14 tháng 7 năm 1946
Tái biên chế: 27 tháng 8 năm 1966
Xuất biên chế: 3 tháng 10 năm 1957
14 tháng 1 năm 1970
Đổi tên: Arlington, 8 tháng 4 năm 1965
Xếp lớp lại: AVT-6, 15 tháng 5 năm 1959,
CC-3, tháng 3 năm 1963,
AGMR-2, 1 tháng 9 năm 1964
Xóa đăng bạ: 15 tháng 8 năm 1975
Danh hiệu và
phong tặng:
7 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bán để tháo dỡ 1976
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Saipan
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn);
19.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 684 ft (208 m)
Sườn ngang: 76,8 ft (23,4 m) (mực nước)
115 ft (35 m) (chung)
Mớn nước: 28 ft (8,5 m)
Động cơ đẩy: Turbine hôp số hơi nước
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 kn (61 km/h)
Thủy thủ đoàn: 1.721 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 42 × pháo phòng không Bofors 40 mm (5×4, 11×2)
16 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm nòng kép
Máy bay mang theo: 42: 18 máy bay tiêm kích F6F Hellcat
12 máy bay ném bom bổ nhào SB2C Helldiver
12 máy bay ném bom ngư lôi TBM Avenger

USS Saipan (CVL-48/AVT-6/CC-3) là một tàu sân bay hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc dẫn đầu của lớp Saipan vốn còn bao gồm chiếc Wright. Nó chỉ phục vụ như một tàu sân bay trong một thời gian ngắn trước khi được xếp lại lớp như một tàu chỉ huy vào năm 1963, rồi như chiếc tàu chuyển tiếp liên lạc chủ lực Arlington (AGMR-2) vào năm 1965. Nó ngừng hoạt động vào năm 1970 và bị bán để tháo dỡ vào năm 1976.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Saipan được đặt lườn vào ngày 10 tháng 7 năm 1944 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 7 năm 1945, được đỡ đầu bởi Bà John W. McCormack, và được đưa ra hoạt động vào ngày 14 tháng 7 năm 1946 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân John G. Crommelin.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Các hoạt động ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Được đưa ra hoạt động mười một tháng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai chấm dứt, Saipan tiến hành huấn luyện học viên phi công hải quân ngoài khơi Pensacola, Florida từ tháng 9 năm 1946 đến tháng 4 năm 1947. Được điều về cảng nhà mới Norfolk, Virginia, nó rời vịnh Mexico tham gia các đợt tập trận tại vùng biển Caribbe rồi tiếp tục đi đến Xưởng hải quân Philadelphia để đại tu. Đến tháng 11, nó quay trở lại Pensacola, nhưng vào cuối tháng 12, sau một lượt huấn luyện học viên mới, nó quay trở lại khu vực bờ Đông để phục vụ cùng Lực lượng Phát triển Chiến thuật.

Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 1948, các công việc về kỹ thuật hoạt động máy bay phản lực, chiến thuật hỗ trợ tàu sân bay và đánh giá thiết bị điện tử của nó tạm ngưng trong một thời gian ngắn. Từ ngày 7 đến ngày 24 tháng 2, nó đưa các đại biểu của Hoa Kỳ đi dự lễ nhậm chức của Tổng thống Venezuela. Sau khi quay trở về, nó tiến hành các hoạt động tại chỗ ngoài khơi Virginia Capes, và vào tháng 4, sau một chuyến viếng thăm Portsmouth, New Hampshire, nó quay trở lại các hoạt động của Lực lượng Phát triển Chiến thuật. Vào ngày 18 tháng 4, nó thay phiên cho tàu sân bay hộ tống Mindoro (CVE-120) trong vai trò soái hạm của Đội tàu sân bay 17.

Liên đội Tiêm kích 17A[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay FH-1 Phantom thuộc Liên đội VF-17A trên USS Saipan, tháng 5 năm 1948.

Vào ngày 19 tháng 14 năm 1948, Saipan khởi hành từ Norfolk để đi đến Quonset Point, Rhode Island, nơi mà vào ngày 3 tháng 5 nó nhận lên tàu Liên đội Tiêm kích 17A. Ba ngày sau, mọi phi công thuộc liên đội đạt chuẩn nhận tàu sân bay đối với kiểu máy bay tiêm kích phản lực FH-1 Phantom. Liên đội VF-17A trở thành liên đội máy bay phản lực đầu tiên hoạt động trên tàu sân bay.

Quay trở lại Norfolk vào cuối tháng, Saipan được cất khỏi trách nhiệm soái hạm đội tàu sân bay, và vào tháng 6 nó quay trở lại vùng biển ngoài khơi New England, rồi đến tháng 7 được đại tu tại Norfolk. Đến tháng 12, nó quay lại các hoạt động tại chỗ. Vào ngày 24 tháng 12, nó nhận lên tàu hai chiếc máy bay trực thăng kiểu mới nhất XHJS-1 và ba máy bay trực thăng HRP-1 của lực lượng Thủy quân Lục chiến rồi đi lên phía Bắc hướng đến Greenland để trợ giúp vào việc giải cứu mười một thành viên của đội bay bị rơi trên đảo băng này. Khởi hành từ Norfolk vào ngày Giáng sinh, chiếc tàu sân bay đi đến ngoài khơi vào ngày 28 tháng 12, sẵn sàng tung máy bay trực thăng ra một khi thời tiết cho phép. Tuy nhiên, vào ngày 29 tháng 12, một máy bay C-47 trang bị càng đáp bằng ván trượt và bộ rocket hỗ trợ cất cánh đã hạ cánh trên băng giải cứu được những người gặp nạn.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Arlington (AGMR-2) được trao tặng bảy Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Việt Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]