Cá heo mũi chai Ấn Độ Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tursiops aduncus
Tursiops aduncus, Port River, Adelaide, Australia - 2003.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Cetacea
Họ (familia) Delphinidae
Chi (genus) Tursiops
Loài (species) T. aduncus
Danh pháp hai phần
Tursiops aduncus
(Ehrenberg, 1833)
Distribution of Tursiops aduncus.png
Danh pháp đồng nghĩa
Delphinus aduncus Ehrenberg, 1833

Cá heo mũi chai Ấn Độ Dương, tên khoa học Tursiops aduncus, là một loài động vật có vú trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Ehrenberg mô tả năm 1833.[2] Loài cá heo này dài đến 2,6 m, và cân nặng tới 230 kg[3]. Loài này sinh sống trong các vùng nước xung quanh Ấn Độ, Bắc Australia, Nam Trung Quốc, Biển Đỏ, và bờ biển phía đông của châu Phi. Lưng của chúng có màu xám đen và bụng có mày xám nhạt hơn hoặc gần như trắng với những đốm màu xám[3].

Cho đến năm 1998, tất cả các cá heo mũi chai Ấn Độ Dương được coi là thành viên của loài T. truncatus. Trong năm đó, cá heo mũi chai Ấn Độ Dương đã được công nhận là một loài riêng biệt[4][5]. Loài cá heo mũi chai Ấn Độ Dương nhìn chung nhỏ hơn so với cá heo mũi chai, có mõ đài tương ứng, và có các đốm trên bụng của và phía thấp hơn[4][6]. Chúng cũng có nhiều răng nhiều hơn cá heo mũi chai thông thường -23 đến 29 răng trên mỗi bên của mỗi hàm so với 21-24 của cá heo mũi chai thông thường[6]. Có bằng chứng cho thấy cá heo mũi chai Ấn Độ Dương thực sự có thể liên quan chặt chẽ hơn đối với các loài cá heo nhất định trong chi StenellaDelphinus, đặc biệt là cá heo đốm Đại Tây Dương (S. frontalis), hơn là với cá heo mũi chai[4][7].

Phần lớn các dữ liệu khoa học cũ trong lĩnh vực này kết hợp dữ liệu về cá heo mũi chai Ấn Độ Dương và cá heo mũi chai vào một nhóm duy nhất, làm khiến nó trở nên vô ích trên thực tế trong việc xác định cấu trúc khác biệt giữa hai loài. IUCN liệt kê loài cá heo mũi chai Ấn Độ Dương là "thiếu dữ liệu" trong Danh sách đỏ các loài bị đe dọa vì vấn đề này của chúng[8].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hammond, P.S., Bearzi, G., Bjørge, A., Forney, K., Karczmarski, L., Kasuya, T., Perrin, W.F., Scott, M.D., Wang, J.Y., Wells, R.S. & Wilson, B. (2008). Tursiops aduncus. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày ngày 7 tháng 10 năm 2008.
  2. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Tursiops aduncus”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ a ă Shirihai, H. and Jarrett, B. (2006). Whales Dolphins and Other Marine Mammals of the World. tr. 159–161. ISBN 0-691-12757-3. 
  4. ^ a ă â Wells, R. and Scott, M. (2002). “Bottlenose Dolphins”. Trong Perrin, W.; Wursig, B. and Thewissen, J. Encyclopedia of Marine Mammals. Academic Press. tr. 122–127. ISBN 0-12-551340-2. 
  5. ^ Möller Luciana M., Beheregaray Luciano B (2001). “Coastal bottlenose dolphins from southeastern Australia are Tursiops aduncus according to sequences of the mitochondrial DNA control region”. Marine Mammal Science 17 (2): 249–263. doi:10.1111/j.1748-7692.2001.tb01269.x. 
  6. ^ a ă Reeves, R.; Stewart, B.; Clapham, P.; Powell, J. (2002). Guide to Marine Mammals of the World. tr. 362–365. ISBN 0-375-41141-0. 
  7. ^ Leduc, R., Perrin, W. & Dizon, E. (18 tháng 8 năm 1998). “Phylogenetic Relationships among the Delphinid Cetaceans Based on Full Cytochrome B Sequences”. Marine Mammal Science 15 (3): 619–648. doi:10.1111/j.1748-7692.1999.tb00833.x. 
  8. ^ “Tursiops truncatus: Species Information”. IUCN. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2006. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Tursiops aduncus tại Wikimedia Commons