Họ Cá heo đại dương
| Họ Cá heo đại dương | |
|---|---|
| Khoảng thời gian tồn tại: Cuối thế Oligocen – nay | |
| Cá heo hông trắng Thái Bình Dương (Lagenorhynchus obliquidens) | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Chordata |
| Lớp: | Mammalia |
| Bộ: | Artiodactyla |
| Phân thứ bộ: | Cetacea |
| Liên họ: | Delphinoidea |
| Họ: | Delphinidae Gray, 1821 |
| Chi điển hình | |
| Delphinus Linnaeus, 1758 | |
| Các chi | |
|
Xem phần Phân loại | |
Cá heo đại dương hay họ Cá heo đại dương (danh pháp khoa học: Delphinidae) là một họ động vật có vú thuộc bộ Cá voi (Cetacea). Đây là nhóm cá heo đa dạng nhất hiện nay với khoảng 30 loài còn tồn tại, phân bố rộng rãi tại các đại dương và vùng biển trên thế giới.[1]
Họ Delphinidae thuộc siêu họ Delphinoidea, cùng với họ Cá heo chuột (Phocoenidae) và họ Kỳ lân biển (Monodontidae). Một số loài trong họ mang tên gọi phổ biến chứa từ “cá voi”, chẳng hạn như cá voi sát thủ hay cá voi hoa tiêu.
Các loài cá heo đại dương nổi tiếng với trí thông minh cao, cấu trúc xã hội phức tạp và khả năng định vị bằng tiếng vang. Chúng là một trong những nhóm động vật biển được nghiên cứu nhiều nhất.
Đặc điểm
[sửa | sửa mã nguồn]Các loài trong họ Delphinidae có kích thước rất đa dạng, từ cá heo Maui dài khoảng 1,7 m và nặng khoảng 50 kg đến cá voi sát thủ, loài lớn nhất trong họ, có thể dài tới 9,4 m và nặng khoảng 10 tấn.
Cơ thể của cá heo đại dương có dạng thuôn dài thích nghi với môi trường nước. Chi trước tiến hóa thành chân chèo, trong khi chi sau gần như tiêu biến hoàn toàn. Vây lưng xuất hiện ở phần lớn các loài và giúp ổn định cơ thể khi bơi.
Đa số cá heo đại dương là động vật ăn thịt. Thức ăn chủ yếu gồm cá, mực ống và các loài giáp xác. Một số loài lớn như cá voi sát thủ còn săn cả chim biển và các động vật có vú biển.
Các loài trong họ này sở hữu hệ thống định vị bằng tiếng vang phát triển cao. Chúng phát ra sóng âm tần số cao rồi phân tích tiếng vọng phản xạ để xác định vị trí con mồi hoặc vật cản.
Phân bố và môi trường sống
[sửa | sửa mã nguồn]Cá heo đại dương phân bố tại hầu hết các đại dương và vùng biển trên Trái Đất. Phần lớn các loài sinh sống ở vùng nước nhiệt đới và ôn đới, tuy nhiên một số loài như cá heo đầu bò thích nghi tốt với môi trường lạnh hơn.
Nhiều loài sống ngoài khơi xa bờ, trong khi một số khác thường xuất hiện gần bờ biển, cửa sông hoặc vùng nước nông.
Tập tính
[sửa | sửa mã nguồn]Xã hội và giao tiếp
[sửa | sửa mã nguồn]Cá heo đại dương thường sống thành đàn với số lượng từ vài cá thể đến hàng nghìn cá thể. Chúng giao tiếp bằng nhiều dạng âm thanh khác nhau như tiếng huýt sáo, tiếng lách cách và âm thanh xung.
Một số loài có cấu trúc xã hội phức tạp và ổn định, đặc biệt là cá voi sát thủ, trong khi nhiều loài khác hình thành đàn linh hoạt với các cá thể thường xuyên tách hoặc nhập nhóm.
Sinh sản
[sửa | sửa mã nguồn]Thời gian mang thai của cá heo đại dương kéo dài từ 10 đến 18 tháng. Mỗi lần sinh thường chỉ có một con non. Con cái đảm nhiệm phần lớn việc chăm sóc và nuôi dưỡng con non.
Nhiều loài sinh sản theo mùa, thường vào mùa xuân hoặc mùa hè.
Quan hệ với con người
[sửa | sửa mã nguồn]Săn bắt
[sửa | sửa mã nguồn]Tại một số quốc gia như Nhật Bản, cá heo đại dương bị săn bắt trong các hoạt động đánh bắt truyền thống. Ngoài ra, chúng còn chịu tác động từ ô nhiễm môi trường biển, mất môi trường sống và hoạt động khai thác thủy sản.
Nuôi nhốt
[sửa | sửa mã nguồn]Một số loài cá heo được nuôi nhốt để biểu diễn tại các công viên biển và thủy cung. Cá heo mũi chai là loài phổ biến nhất trong môi trường nuôi nhốt.
Trong văn hóa đại chúng
[sửa | sửa mã nguồn]Cá heo xuất hiện trong nhiều nền văn hóa và tác phẩm nghệ thuật khác nhau. Một ví dụ nổi tiếng là bộ phim Free Willy của Warner Bros..
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]Chi Cephalorhynchus
- Cephalorhynchus commersonii – cá heo Commerson
- Cephalorhynchus eutropia – cá heo Chile
- Cephalorhynchus heavisidii – cá heo Heaviside
- Cephalorhynchus hectori – cá heo Hector
Chi Delphinus
- Delphinus capensis – cá heo mõm dài
- Delphinus delphis – cá heo mõm ngắn
Chi Globicephala
- Globicephala macrorhynchus – cá voi đầu tròn vây ngắn
- Globicephala melas – cá voi đầu tròn vây dài
Chi Lagenorhynchus
- Lagenorhynchus acutus – cá heo hông trắng Đại Tây Dương
- Lagenorhynchus albirostris – cá heo mõm trắng
- Lagenorhynchus australis – cá heo Peale
- Lagenorhynchus cruciger – cá heo vằn chữ thập
- Lagenorhynchus obliquidens – cá heo hông trắng Thái Bình Dương
- Lagenorhynchus obscurus – cá heo sẫm màu
Chi Orcinus
- Orcinus orca – cá voi sát thủ
Chi Sousa
- Sousa chinensis – cá heo lưng bướu Thái Bình Dương
- Sousa plumbea – cá heo lưng bướu Ấn Độ Dương
- Sousa teuszii – cá heo lưng bướu Đại Tây Dương
Chi Stenella
- Stenella attenuata – cá heo đốm nhiệt đới
- Stenella clymene – cá heo Clymene
- Stenella coeruleoalba – cá heo sọc
- Stenella frontalis – cá heo đốm Đại Tây Dương
- Stenella longirostris – cá heo Spinner
Chi Tursiops
- Tursiops aduncus – cá heo mũi chai Ấn Độ Dương
- Tursiops truncatus – cá heo mũi chai thông thường
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- LeDuc R.G., Perrin W.F., Dizon A.E. (1999). Phylogenetic relationships among the delphinid cetaceans based on full cytochrome b sequences. Marine Mammal Science 15, 619–648.
- May-Collado L., Agnarsson I. (2006). Cytochrome b and Bayesian inference of whale phylogeny. Molecular Phylogenetics and Evolution 38, 344–354.