Cá voi xanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá voi xanh[1]
Large Blue Whale Off Southern California Coast Photo D Ramey Logan.jpg
Cá voi xanh (Balaenoptera musculus) trưởng thành ở Thái Bình Dương: La Jolla CA 13 tháng 7, 2014
Blue whale size.svg
Kích cỡ so với một người trung bình
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

Nhánh Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Phân thứ ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass)

Tetrapoda

Nhánh Synapsida
Nhánh Reptiliomorpha
Nhánh Amniota
Nhánh Mammaliaformes
Lớp (class) Mammalia
Phân lớp (subclass) Theria
Phân thứ lớp (infraclass) Placentalia
Liên bộ (superordo)

Laurasiatheria

Nhánh Cetartiodactyla
Bộ (ordo) Cetacea
Phân bộ (subordo) Mysticeti
Họ (familia) Balaenopteridae
Chi (genus) Balaenoptera
Loài (species) B. musculus
Danh pháp hai phần
Balaenoptera musculus
(Linnaeus, 1758)
Phạm vi sinh sống của cá voi xanh (xanh dương)
Phạm vi sinh sống của cá voi xanh (xanh dương)
Phân loài
  • B. m. brevicauda Ichihara, 1966
  •  ?B. m. indica Blyth, 1859
  • B. m. intermedia Burmeister, 1871
  • B. m. musculus Linnaeus, 1758
Danh pháp đồng nghĩa
  • Balaenoptera gibbar Scoresby, 1820
  • Pterobalaena gigas Van Beneden, 1861
  • Physalus latirostris Flower, 1864
  • Sibbaldius borealis Gray, 1866
  • Flowerius gigas Lilljeborg, 1867
  • Sibbaldius sulfureus Cope, 1869
  • Balaenoptera sibbaldii Sars, 1875

Cá voi xanh, còn gọi là cá ông là một loài cá voi thuộc về phân bộ Mysticeti.[3] Dài 45 mét (148 ft)[4] và nặng 250 tấn (280 short ton)[5] hay thậm chí hơn nữa, nó là động vật lớn nhất còn tồn tại và nặng nhất từng tồn tại.[6]

Cơ thể cá voi xanh dài và thon, có thể có màu hơi xanh-xám ở mặt lưng và sáng màu hơn ở mặt bụng.[7] Có ít nhất 3 phân loài cá voi xanh: B. m. musculus sống ở vùng biển bắc Đại Tây Dương và bắc Thái Bình Dương, B. m. intermedia sống ở Nam Băng Dương và B. m. brevicauda (cá voi xanh lùn) sống ở Ấn Độ Dương và nam Thái Bình Dương. Giống như các loài cá voi khác, thức ăn của chúng chủ yếu là sinh vật phù dugiáp xác nhỏ.[8]

Trước thế kỉ 20, cá voi xanh tồn tại với số lượng cá thể lớn ở hầu hết các đại dương trên thế giới. Nhưng hơn 100 năm qua, chúng bị săn bắn đến mức gần như tuyệt chủng cho đến khi được bảo vệ bởi luật pháp quốc tế vào năm 1966. Theo một báo cáo vào năm 2002, có xấp xỉ 5.000 - 12.000 cá thể sống trên toàn thế giới,[9] bao gồm ít nhất 5 nhóm. Trước khi bị săn bắt ráo riết, quần thể cá voi xanh lớn nhất ở vùng biển Nam cực có khoảng 239.000 cá thể (từ 202.000 tới 311.000).[10] Các quần thể nhỏ hơn khác (khoảng 2000 cá thể) tập trung ở các vùng biển Đông bắc Thái Bình Dương, Nam Cực. Có 2 quần thể khác ở Bắc Đại Tây Dương và ít nhất 2 quần thể nữa ở Nam Bán Cầu.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Cá voi xanh thuộc về họ Balaenopteridae, họ này bao gồm cá voi lưng gù, cá voi vây, cá voi Bryde, cá voi Seicá voi Minke.[3] Balaenopteridae được tin rằng đã tách ra từ các họ khác của phân bộ Mysticeti khoảng giữa thế Oligocene (28 triệu năm trước).

Cá voi xanh thường được phân loại như một trong tám loài của chi Balaenoptera; một tác giả đặt nó trong một chi đơn loài riêng biệt, Sibbaldus,[11] nhưng không được thừa nhận.[1] Phân tích ADN cho thấy cá voi xanh là họ hàng gần của cá voi Sei (Balaenoptera borealis) và cá voi Bryde (Balaenoptera brydei) hơn các loài Balaenoptera khác, và gần với cá voi lưng gù (Megaptera) và cá voi xám (Eschrichtius) hơn là cá voi Minke (Balaenoptera acutorostrataBalaenoptera bonaerensis).[12][13]

Có tài liệu về ít nhất 11 trường hợp lai tự nhiên giữa cá voi xanh/cá voi vây. Arnason và Gullberg miêu tả khoảng cách di truyền giữa cá voi xanh và cá voi vây giống khoảng cách giữa người và khỉ đột.[14] Các nhà nghiên cứu ở Fiji tin rằng họ đã chụp được hình một con cá voi lưng gù/cá voi xanh lai.[15]

Miên tả đầu tiên về cá voi xanh đến từ Phalainologia Nova của Robert Sibbald (1694). Vào tháng 9, 1692, Sibbald tìm thấy một con cá voi bị mắc cạn ở Firth of Forth—một con đực dài 24 m (78 ft).[16]

Các tác giả chia loài này thành ba phân loài: B. m. musculus, quần thể bắc Đại Tây Dương và bắc Thái Bình Dương, B. m. intermedia, ở Nam Băng Dương, B. m. brevicauda, cá voi xanh lùn được tìm thấy ở Ấn Độ Dương và nam Thái Bình Dương,[17]B. m. indica, đây là phân loài còn nhiều vấn đề, cũng được tìm thấy ở Ấn Độ Dương, mặc dù B. m. indica được miêu tả sớm hơn, nó có thể đồng nghĩa với B. m. brevicauda.[1]

Mô tả và tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Cá voi xanh đang rẽ nước
The small dorsal fin of this blue whale is just visible on the far left.

Cá voi xanh là loài động vật lớn nhất đã được biết đến còn sinh tồn.[18][19] So với một trong những chi khủng long lớn nhất trong Đại Trung SinhArgentinosaurus,[20] chỉ nặng đến 90 tấn, bằng với cá voi xanh trung bình.[21] Amphicoelias fragillimus, dù đạt chiều dài 190 foot (58 m), được ước tính nặng 122,4 tấn vẫn nhẹ hơn cá voi xanh.[22]

Cá voi xanh khó tính khối lượng do kích thước lớn của nó. Các con số đưa ra đối với cá voi lớn chủ yếu từ những người săn cá voi, cá voi xanh trưởng thành chưa bao giờ được cân toàn bộ, mà bị cắt thành từng phần trước khi cân. Đây là lý do không tính chính xác được tổng khối lượng của cá voi xanh, do mất máu và các chất dịch khác. Nhìn chung, các con cá voi xanh ở bắc Đại Tây Dương và Thái Bình Dương nhỏ hơn các cá thể ở các vùng nước gần Nam Cực. Tuy nhiên, giá trị đo trung bình trong khoảng 150-170 tấn được ghi nhận cho cá thể dài 27 m. Một cá thể có chiều dài 30 mét (98 ft) theo Phòng thí nghiệm động vật có vú biển quốc gia Hoa Kỳ (National Marine Mammal Laboratory) đạt tới 180 tấn. Con cá voi xanh lớn nhất được các nhà khoa học ở đây đolà con cái có khối lượng 177 tấn.[9]

There is some uncertainty about the biggest blue whale ever found, as most data came from blue whales killed in Antarctic waters during the first half of the twentieth century, which were collected by whalers not well-versed in standard zoological measurement techniques. The heaviest whale ever recorded weighed in at approximately 190 tấn (210 short ton).[23] The longest whales ever recorded were two females measuring 3,6 và 33,3 mét (12 và 109 ft), although in neither of these cases was the piecemeal weight gathered.[24] The longest whale measured by scientists at the NMML was a 29,9 mét (98 ft),[9] female caught in the Antarctic by Japanese whalers in 1946–47. Lieut. Quentin R. Walsh, USCG, while acting as whaling inspector of the factory ship Ulysses, verified the measurement of a 30 m (98 ft) pregnant blue whale caught in the Antarctic in the 1937–38 season.[25] The longest reported in the North Pacific was a 27,1 mét (89 ft) female taken by Japanese whalers in 1959, and the longest reported in the North Atlantic was a 28,1 mét (92 ft) female caught in the Davis Strait.[16]

Due to its large size, several organs of the blue whale are the largest in the animal kingdom. A blue whale's tongue weighs around 2,7 tấn (3,0 short ton)[26] and, when fully expanded, its mouth is large enough to hold up to 90 tấn (99 short ton) of food and water.[8] Despite the size of its mouth, the dimensions of its throat are such that a blue whale cannot swallow an object wider than a beach ball.[27] Its heart weighs 1.000 pound (450 kg) and is 6 foot (1,8 m) wide, with a thoracic aorta estimated to be 9 inch (23 cm) in diameter.[28] Trong vòng 7 tháng đầu sau sinh, con cá voi xanh con uống khoảng 400 lít (110 gal Mỹ) sữa mỗi ngày, nên khối lượng nó tăng lên rất nhanh vào khoảng 90 kilôgam (200 lb) mỗi 24 giờ. Thậm chí lúc mới sinh nó đã nặng 2.700 kilôgam (6.000 lb)—bằng khối lượng một con hà mã (hippopotamus) trưởng thành.[3] Cá voi xanh có bộ não tương đối nhỏ (6,92 kilôgam (15,26 lb)), chỉ bằng khoảng 0,007% khối lượng cơ thể của nó.[29] Dương vật cá voi xanh là dương vật lớn nhất trong tất cả các sinh vật sống[30] và cũng giữ kỷ lục Guinness thế giới là có dương vật dài nhất.[31] Chiều dài trung bình của dương vật thay đổi nhưng thường vào khoảng 2,4 m (8 ft) đến 3,0 m (10 ft).[32]

Hộp sọ của cá voi xanh 5,8 mét (19 ft)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Bản mẫu:MSW3 Mead
  2. ^ Reilly, S.B., Bannister, J.L., Best, P.B., Brown, M., Brownell Jr., R.L., Butterworth, D.S., Clapham, P.J., Cooke, J., Donovan, G.P., Urbán, J. & Zerbini, A.N. (2008). Balaenoptera musculus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ a ă â “American Cetacean Society Fact Sheet – Blue Whales”. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ J. Calambokidis and G. Steiger (1998). Blue Whales. Voyageur Press. ISBN 0-89658-338-4. 
  5. ^ “Animal Records”. Smithsonian National Zoological Park. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2007. 
  6. ^ “What is the biggest animal ever to exist on Earth?”. How Stuff Works. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2007. 
  7. ^ “Species Fact Sheets: Balaenoptera musculus (Linnaeus, 1758)”. Fisheries and Aquaculture Department, Food and Agriculture Organization, United Nations. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ a ă Jason de Koning and Geoff Wild (1997). “Contaminant analysis of organochlorines in blubber biopsies from blue whales in the St. Lawrence Seaway”. Trent University. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2007. 
  9. ^ a ă â “Assessment and Update Status Report on the Blue Whale Balaenoptera musculus (PDF). Committee on the Status of Endangered Wildlife in Canada. 2002. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2007. 
  10. ^ T.A. Branch, K. Matsuoka and T. Miyashita (2004). “Evidence for increases in Antarctic blue whales based on Bayesian modelling”. Marine Mammal Science 20 (4): 726–754. doi:10.1111/j.1748-7692.2004.tb01190.x. 
  11. ^ Barnes LG, McLeod SA. (1984). “The fossil record and phyletic relationships of gray whales.”. Trong Jones ML et al. The Gray Whale. Orlando, Florida: Academic Press. tr. 3–32. ISBN 0-12-389180-9. 
  12. ^ Arnason, U., Gullberg A. & Widegren, B. (ngày 1 tháng 9 năm 1993). “Cetacean mitochondrial DNA control region: sequences of all extant baleen whales and two sperm whale species”. Molecular Biology and Evolution 10 (5): 960–970. PMID 8412655. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2009. 
  13. ^ Sasaki, T. et al. (ngày 4 tháng 3 năm 2011). “Mitochondrial phylogenetics and evolution of mysticete whales”. Systematic Biology 54 (1): 77–90. doi:10.1080/10635150590905939. PMID 15805012. 
  14. ^ A. Arnason and A. Gullberg (1993). “Comparison between the complete mtDNA sequences of the blue and fin whale, two species that can hybridize in nature”. Journal of Molecular Ecology 37 (4): 312–322. PMID 8308901. 
  15. ^ Amazing Whale Facts Archive. Whale Center of New England (WCNE). Truy cập 2008-02-27.
  16. ^ a ă Bortolotti, Dan (2008). Wild Blue: A Natural History of the World’s Largest Animal. St. Martin's Press. 
  17. ^ Ichihara T. (1966). The pygmy blue whale B. m. brevicauda, a new subspecies from the Antarctic in Whales, dolphins and porpoises Page(s) 79–113.
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên afsc
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên wwf
  20. ^ Bonaparte J, Coria R (1993). “Un nuevo y gigantesco sauropodo titanosaurio de la Formacion Rio Limay (Albiano-Cenomaniano) de la Provincia del Neuquen, Argentina”. Ameghiniana (bằng tiếng Tây Ban Nha) 30 (3): 271–282. 
  21. ^ Croll và đồng nghiệp (2001). “The diving behavior of blue and fin whales: is dive duration shorter than expected based on oxygen stores?” (PDF). Comparative Biochemistry and Physiology Part A 129: 797–809. doi:10.1016/s1095-6433(01)00348-8. 
  22. ^ Carpenter, K. (2006). "Biggest of the big: a critical re-evaluation of the mega-sauropod Amphicoelias fragillimus." In Foster, J.R. and Lucas, S.G., eds., 2006, Paleontology and Geology of the Upper Jurassic Morrison Formation. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin 36: 131–138.
  23. ^ Wood, Gerald (1983). The Guinness Book of Animal Facts and Feats. tr. 256. ISBN 978-0-85112-235-9. 
  24. ^ Sears R, Calambokidis J (2002). Update COSEWIC status report on the blue whale Balaenoptera musculus in Canada. Committee on the Status of Endangered Wildlife in Canada, Ottawa. tr. 32. 
  25. ^ Capelotti, P.J. (ed.), Quentin R. Walsh. 2010. The Whaling Expedition of the Ulysses, 1937–38, p. 28.
  26. ^ The Scientific Monthly. American Association for the Advancement of Science. 1915. tr. 21. 
  27. ^ Blue Planet: Frozen seas (BBC documentary)
  28. ^ Caspar, Dave (tháng 4 năm 2001). “Ms. Blue's Measurements” (PDF). Seymour Center, University of California, Santa Cruz. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2006. 
  29. ^ Tinker, Whales of the World (1988, p. 76).
  30. ^ “Reproduction”. University of Wisconsin. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 
  31. ^ Longest animal penis:
    the longest penis belongs to the blue whale at up to 2,4 m (8 ft).
  32. ^ Long, John A. (11 tháng 10 năm 2012). The Dawn of the Deed: The Prehistoric Origins of Sex. University of Chicago Press. tr. 24. ISBN 978-0-226-49254-4. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Balaenoptera musculus tại Wikimedia Commons