Danh sách các chiến lược quân sự

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đây là danh sách các chiến lược quân sự cùng một số thuật ngữ và khái niệm quân sự khác. Sự sắp xếp theo hệ thống chỉ có tính tương đối.

Mỗi chiến lược thậm chí có thể trùng lắp như một chiến thuật. Ví dụ, phản công vừa là chiến thuật vừa là chiến lược, hoạt động này vừa diễn ra ở mức độ một trận đánh vừa thuộc mức cao hơn như chiến sự trên một mặt trận.[note 1] Một ví dụ khác, việc khai thác điều kiện tự nhiên có thể xem là hoạt động vừa có tính chiến thuật hoặc vừa có tính chiến lược, việc khai thác đó vừa là lợi thế của một người lính hay một đơn vị nhỏ, cũng là lợi thế của cả một đơn vị quân sự quy mô lớn, lợi thế không chỉ trong một trận đánh mà cả cuộc chiến tranh.[note 2]

Danh sách này chỉ có tính liệt kê, không diễn giải sự liên quan, kết nối hay chồng lấn của các khái niệm. Mỗi một đề mục nhỏ của danh sách nên được hiểu một cách độc lập với nhau.

Chiến lược tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến lược phòng thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến lược hoặc chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Án binh bất động[sửa | sửa mã nguồn]

...là thuật ngữ quân sự không được mô tả là tấn công hay phòng thủ, về cấp độ chiến lược hay chiến thuật nó có thể bao gồm cả hai. Khái niệm này mô tả quân đội được đặt trong tình trạng kìm chế, tránh giao chiến với quân đối phương, che dấu lực lượng để không bị phát hiện, hoặc triệt thoái. Thông thường các hoạt động quân sự theo cách này tiến hành bởi một đạo quân yếu hơn đối thủ.

Khi lực lượng không đủ mạnh và không có khả năng xác định chiến thắng, để tránh thiệt hại, việc tránh giao chiến là cần thiết, quân đội có thể án binh bất động, hoặc di chuyển nhanh ra khỏi vùng quân địch đang triển khai.

Án binh bất động cũng bao gồm việc một đạo quân đang trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu nhưng để đối phương tấn công trước, tình huống này xảy ra sẽ giúp phán đoán ý định và hướng tiến của quân đối phương, từ đó các biện pháp phản ứng quân sự sẽ chính xác, hiệu quả hơn.

Trong một số tình huống chiến tranh, đôi khi hai bên có lực lượng tương đối đồng đều nhau, đạo quân nào tấn công trước sẽ phải bại, bởi vì lực lượng tấn công sẽ phải để lại một phần ở căn cứ xuất phát, một phần dàn trải bảo vệ cho tuyến cung ứng hậu cần, trong khi đó lực lượng tấn công có thể tập trung toàn bộ quân của mình để phòng thủ, lợi thế địa hình và công sự phòng thủ, bố trí đội hình và hỏa lực sẵn sàng, vì vậy thường sẽ chiến thắng quân tấn công trước.

Nội dung khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các thuật ngữ quân sự khác[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ xem: Tấn công phản kích
  2. ^ xem thêm: Chiến tranh Pháp-Nga (1812)
  3. ^ xem thêm: Tình trạng khẩn cấp Malaya
  4. ^ xem Chiến dịch đánh Tống
  5. ^ xem Chiến tranh biên giới Tây Nam

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Strategy of Maurice (Chiến lược của Maurice), (thế kỷ 6), Quyển X - Bao vây.
  2. ^ Tactica, Leon VI (895-908), Chương XV, Về việc bao vây một thị trấn.
  3. ^ a ă â b c Robert Greene, 33 Chiến lược của chiến tranh, xuất bản tại Việt Nam năm 2008, bởi NXB Trẻ.
  4. ^ Katsuji Inahara. Japan's Continental Policy. Foreign Affairs Association of Japan. 1938.
  5. ^ "The Surge at Year One". bởi Michael Duffy. Time. Xuất bản ngày 31 tháng 1 năm 2008
  6. ^ a ă President George W. Bush (10 tháng 1 năm 2007). “President's Address to the Nation”. Office of the Press Secretary. 
  7. ^ President George W. Bush (10 tháng 1 năm 2007). “Fact Sheet: The New Way Forward in Iraq”. Office of the Press Secretary. After talking to some Afghan leaders, it was said that the Iran's would be revolting if more troops were to be sent to Iran. 
  8. ^ Ba mươi sáu kế, Chương III.
  9. ^ Ba mươi sáu kế, Chương IV.
  10. ^ Ba mươi sáu kế, Chương I, Giương Đông kích Tây.
  11. ^ Ba mươi sáu kế, Chương VI.
  12. ^ Strategy of Maurice (Chiến lược của Maurice), (thế kỷ 6), Quyển XII.