Giáp Văn Cương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Giáp Văn Cương
Giap van cuong.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ1984 – 1990
Tiền nhiệmĐoàn Bá Khánh
Kế nhiệmHoàng Hữu Thái
Nhiệm kỳ1977 – 1980
Tiền nhiệmNguyễn Bá Phát
Kế nhiệmĐoàn Bá Khánh
Nhiệm kỳ1974 – 1977
Thông tin chung
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh(1921-09-13)13 tháng 9, 1921
Lục Nam, Bắc Giang, Liên bang Đông Dương
Mất27 tháng 3, 1990(1990-03-27) (68 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ1945-1990
Cấp bậcVietnam People's Navy Admiral.jpg Đô đốc
Chỉ huyFlag of North Vietnam (1945-1955).svg Việt Minh
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiếnChiến dịch Mậu Thân 1968
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Khen thưởngHuân chương Độc lập hạng nhất
2 Huân chương Quân công hạng nhất
Anh hùng lực lượng vũ trang

Giáp Văn Cương (1921 - 1990), anh hùng lực lượng vũ trang và là Đô đốc đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam, tính đến năm 2011, ngoài ông ra thì chỉ có Tư lệnh Nguyễn Văn Hiến được phong quân hàm này.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giáp Văn Cương sinh ngày 13 tháng 9 năm 1921 tại xã Bảo Đài, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Mặc dù sống trong một gia đình có điền sản (nhà có hàng trăm mẫu ruộng, giàu có nổi tiếng cả một vùng), nhưng rất giàu lòng yêu nước và có tinh thần cách mạng. Mặc dù là "cậu ấm" con nhà gia thế, được cưng chiều, chăm chút và hướng đi theo con đường học hành, khoa cử (được gia đình gửi xuống Hà Nội theo học trường Tây và từng là học sinh trường Bưởi) nhưng ông đã quyết chí đi theo con đường cách mạng. Từ "cậu ấm" con nhà giàu, bằng lòng yêu nước và có tài năng quân sự, ông đã trở thành một vị tướng nổi tiếng từng giữ nhiều trọng trách cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1942, Giáp Văn Cương thoát ly gia đình với mục đích tìm đường đến với cách mạng. Thông qua một người quen biết giới thiệu, "cậu ấm" Giáp Văn Cương đã được nhận vào làm việc trong ngành hỏa xa với chức ký ga Tam Quan (sau đó trở thành Trưởng ga Quy Nhơn- Diêu Trì, tỉnh Bình Định). Chính tại đây, duyên trời đã cho ông gặp được người con gái Hà Thành con nhà gia giáo, để rồi chuyện tình nảy nở và kết thúc bằng một cuộc hôn nhân đẹp. Người con gái đó chính là bà Nguyễn Thị Chắt - vợ của ông sau này.

Hoạt động trong kháng chiến chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19 (Trung đoàn 96, liên khu V) và tham gia trận Đăkpơ (tháng 6 năm 1954).
  • Năm 1965, ông được cử làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 3 Quân khu V. Thời gian tiếp theo, ông tham gia Thường vụ Đặc khu uỷ, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng mặt trận 44.
  • Năm 1974, ông được phong hàm Thiếu tướng, chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tư lệnh Quân chủng Hải quân[sửa | sửa mã nguồn]

Ông chỉ đạo tập trung xây dựng lực lượng tàu mặt nước phù hợp với nền kinh tế của đất nước và điều kiện biển, đảo của Việt Nam, trong đó quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ thuyền. Xác định đất nước ta có bờ biển dài và có nhiều đảo xa bờ nên ông quan tâm đến lực lượng Hải quân đánh bộ, đặc công nước, pháo binh - tên lửa bờ biển. Các lực lượng này giữ vai trò quan trọng trong cấu thành lực lượng của hải quân hiện đại nói chung và Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng.

Ông cho rằng: Hải quân Việt Nam không thể thiếu các binh chủng không quân hải quân và tàu ngầm. Cùng với việc xây dựng các trung đoàn, lữ đoàn cơ động trực thuộc Quân chủng vững mạnh toàn diện, ông luôn quan tâm đến chất lượng các căn cứ, các vùng hải quân, các lữ đoàn thuộc vùng và các cơ sở bảo đảm kỹ thuật trên bờ để phục vụ các lực lượng của vùng, của Quân chủng thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất.

Những năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, ông đặc biệt quan tâm đến hoạt động tác chiến. Để các lực lượng tác chiến thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, xử lý nhanh nhạy các tình huống trên biển, ông chỉ đạo cơ quan, đơn vị chăm lo bổ sung, kiện toàn, mở rộng và nâng cấp lực lượng bảo đảm cho tác chiến như: Thông tin, ra-đa, quan sát biển, trinh sát, bảo đảm hàng hải, công binh chiến đấu... Trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, vũ khí trang bị của hải quân còn nhiều mặt hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong Quân chủng, đồng thời phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.[1]

Bảo vệ chủ quyền đất nước.[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1984 ông đã nhận định: "Trong tương lai gần, vùng biển khu vực Trường Sa không được bình yên và sẽ là chiến trường chính của hải quân Việt Nam". Trong hai năm 1986-1987, một mặt ông yêu cầu bộ phận tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa, mặt khác ông chủ động và kiên trì đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chấp thuận kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Kế hoạch bảo vệ Trường Sa của ông được cấp trên chấp thuận. Ông ra lệnh: nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay. Đối với những đảo chìm thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu "kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi".

Sau đó đã xảy ra sự kiện Hải chiến Trường Sa 1988 với Trung Quốc. Tháng 3 năm 1988, con tàu HQ 505 anh hùng đã lao nhanh giữa những làn đạn đại bác, ủi thẳng lên đảo Cô Lin thuộc chủ quyền Việt Nam, trước khi quân địch đổ bộ chiếm đảo. Tàu hỏng nặng, bốc cháy, nhưng nó trở thành cột mốc chủ quyền và cờ đỏ sao vàng đã tung bay trên đảo Cô Lin cho đến ngày nay.[2]

Không lâu sau đó vì bạo bệnh nên ông mất ngày 23 tháng 3 năm 1990 tại Hà Nội.[3]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất
  • Ngày 07/05/2010, ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
  • Quân chủng Hải quân có chủ trương đề nghị cấp trên cho phép xây dựng Nhà Tưởng niệm Giáp Văn Cương tại quần đảo Trường Sa và đặt tên Giáp Văn Cương cho một hòn đảo trên quần đảo.[3]
  • Năm 2009 Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Nẵng đặt tên đường Giáp Văn Cương cho một đường phố tại quận Liên Chiểu. Sau đó đến Khánh Hòa và Bắc Giang là 2 tỉnh tiếp theo đã đặt tên đường Giáp Văn Cương.

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1974 1980 1988
Quân hàm
Vietnam People's Navy Rear Admiral.jpg
Vietnam People's Navy Vice Admiral.jpg
Vietnam People's Navy Admiral.jpg
Cấp bậc Chuẩn Đô đốc Phó Đô đốc Đô đốc

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Đô đốc Giáp Văn Cương trong ký ức của những người giữ biển”. Quân đội Nhân dân. Truy cập 24 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ “Giáp Văn Cương - tư lệnh của Trường Sa - Tuổi Trẻ Online”. Tuổi Trẻ Online. 7 tháng 5 năm 2010. Truy cập 24 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ a ă [1] Ðô đốc Hải quân Giáp Văn Cương tài năng và thao lược - Báo Nhân dân, Cập nhật 09:42 ngày 14-08-2009.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • [2] Vị tướng của Trường Sa - Báo điện tử Quân đội nhân dân, QĐND - Thứ Hai, 21/12/2009, 19:49 (GMT+7).