Hội chứng Tourette

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hội chứng Tourette
Phân loại và tư liệu bên ngoài
Georges Gilles de la Tourette (1857–1904), người đầu tiên phát hiện bệnh này
ICD-10 F95.2
ICD-9 307.23
OMIM 137580
DiseasesDB 5220
eMedicine med/3107 neuro/664
MeSH D005879

Hội chứng Tourette (còn được gọi Hội chứng Gilles de la Tourette, viết tắt GTS hay TS) là hội chứng thần kinh được thừa hưởng bắt đầu xuất hiện khi còn trẻ, được nhận ra do nhiều tật máy giật vận động và ít nhất một tật phát âm; những tật này thường có lúc tăng lên có lúc giảm xuống, và có thể được kiểm soát tạm thời. Hội chứng Tourette là một phần của phổ tật máy giật, bao gồm những tật tạm thời và có thể thay đổi sang tật khác, tạm thời xảy ra và kết thúc, và kéo dài khó bỏ.

Hội chứng này từng được coi hiếm và kỳ lạ, người ta thường nghĩ đến tật kêu bậy bạ hay kêu những câu không hợp với hoàn cảnh (coprolalia). Tuy nhiên, triệu chứng này chỉ xuất hiện trong ít người bị Hội chứng Tourette.[1] Ngày nay, hội chứng này không còn coi là bệnh hiếm, nhưng có lúc nó không được nhận ra đúng vì nhiều trường hợp bị phân loại là trường hợp nhẹ và một số tật máy giật giảm dần ở hầu hết các trẻ em khi vào tuổi thanh niên (12 - 18 tuổi). Khoảng 0.4% đến 3.8% trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên có thể mắc Hội chứng Tourette; các tật máy giật sẽ xuất hiện nhiều hơn ở độ tuổi tiểu học và hơn, với các tật thông thường như tật giật (nháy) mắt, ho, hắng giọng, hít mạnh, phát ra tiếng động, và các tật ở mặt (méo mặt). Hội chứng Tourette mãn tính ở người trường thành (trên 18 tuổi) thường hiếm, và Tourette không ảnh hưởng xấu đến trí thông minh và tuổi thọ trung bình của người đó.

Những nhân tố di truyềnmôi trường được xem là một trong nhưng nguyên nhân gây Hội chứng Tourette, nhưng chưa ai biết nguyên nhân chính xác gây nên bệnh này. Trong phần nhiều trường hợp, người bị hội chứng này không cần uống thuốc. Chưa có thuốc để giảm mỗi loại tật máy giật, nhưng có thuốc và phép chữa một số loại tật. Giáo dục người bệnh đóng vai trò quan trọng trong việc chữa trị, giải thích và giúp họ giải trừ nỗi lo hay sợ hãi thường là biện pháp chữa trị hữu hiệu;[2][3]. Các hội chứng kèm theo và thường xảy ra đối với người bệnh là Rối Loạn Tăng Động Giảm Chú ÝRối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế. Những hội chứng này thường là nguyên nhân gây thiệt hại về chức năng cho người bệnh hơn là các tật máy giật xảy ra ở người gặp hội chứng Tourette, cho nên việc xét nghiệm các hội chứng kèm theo khá là quan trọng để chẩn đoán bệnh và chữa trị chính xác.

Jean-Martin Charcot (1825–1893) đặt tên của hội chứng này theo một bác sĩ nội trú của ông, Georges Albert Édouard Brutus Gilles de la Tourette (1859–1904). Ông Tourette là thầy thuốc và nhà thần kinh học Pháp đã xuất bản bài tường thuật về chín người bị hội chứng này vào năm 1885.

Vì tỷ lệ mắc hội chứng có thể cao đến một trường hợp trong một trăm người do vậy khoảng 530.000 trẻ em Mỹ tuổi đi học có thể bị hội chứng này,[4]. Có người nổi tiếng bị hội chứng này làm nhiều nghề khác nhau.[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schapiro NA. "Dude, you don't have Tourette's": Tourette's syndrome, beyond the tics. Pediatr Nurs. 2002 May-Jun;28(3):243-6, 249-53. PMID 12087644
  2. ^ Zinner SH. Tourette disorder. Pediatr Rev. 2000;21(11):372. PMID 11077021
  3. ^ Peterson BS, Cohen DJ. The Treatment of Tourette's Syndrome: Multimodal, Developmental Intervention. Được trình diễn ở hội nghị không cởi mở tại New Orleans, Louisiana ngày 12 tháng 4 năm 1996. Không còn trên mạng tại http://psychiatrist.com/psychosis/worldwide/current/tourettes.htm. "Because of the understanding and hope that it provides, education is also the single most important treatment modality that we have in TS."
  4. ^ Scahill L, Williams S, Schwab-Stone M, Applegate J, Leckman JF. Disruptive behavior problems in a community sample of children with tic disorders. Adv Neurol. 2006;99:184-90. PMID 16536365
  5. ^ Đoàn thể Hội chứng Tourette. Portraits of adults with TS. Truy cập trên mạng ngày 18 tháng 9 năm 2006.