Hoàng Cầm (tướng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hoàng Cầm
Năm Thạch
Chức vụ
Nhiệm kỳ1987 – 1992
Tiền nhiệmLê Quang Hòa
Kế nhiệmNguyễn Kiệm (Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng)
Tư lệnh Quân khu 4
Nhiệm kỳ1981 – 1986
Tiền nhiệmHoàng Minh Thi
Kế nhiệmNguyễn Quốc Thước
Nhiệm kỳ3 tháng 5 năm 1975 – 20 tháng 1 năm 1976
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000262.000000262 ngày
Tư lệnh Quân đoàn 4
Nhiệm kỳ1974 – 1981
Tiền nhiệmđầu tiên
Kế nhiệmNguyễn Văn Quảng
Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
Nhiệm kỳ1970 – 1974
Tiền nhiệmNguyễn Minh Châu
Kế nhiệmNguyễn Minh Châu
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9
Nhiệm kỳ1964 – 1970
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9
Nhiệm kỳ1955 – 1964
Tiền nhiệmLê Trọng Tấn
Kế nhiệmNguyễn Thăng Bình
Thông tin chung
Danh hiệuHchcm.JPGHuân chương Hồ Chí Minh
2 Huân chương Quân công hạng nhất
Huan-chuong-Chien-thang.jpgHuân chương Chiến thắng hạng nhất
Huân chương Kháng chiến hạng nhất
...
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh30 tháng 4 năm 1920
Cao Sơn, Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, Liên bang Đông Dương
Mất19 tháng 8, 2013(2013-08-19) (93 tuổi)
Binh nghiệp
ThuộcFlag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ19451987
Cấp bậcVietnam People's Army Colonel General.jpg Thượng tướng
Chỉ huy
Tham chiến

Hoàng Cầm (1920-2013) là một tướng lĩnh quân sự cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tham gia các cuộc Chiến tranh Đông Dương(1945-1954), Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) và Chiến tranh biên giới Tây Nam. Ông được phong hàm thượng tướng năm 1984, được thưởng nhiều huân huy chương của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thuở thiếu thời cho đến Cách mạng Tháng Tám[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Đỗ Văn Cầm, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1920 trong một gia đình nông dân nghèo, quê Cao Sơn, Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Cha ông là cụ Đỗ Văn Trang (1879-1932) và mẹ ông là cụ bà Vũ Thị Tởn (1878-1923). Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm 12 tuổi, sau đó phải lưu lạc để kiếm sống từ quê nhà lên Hà Nội. Năm 21 tuổi, ông đi lính khố xanh cho chính quyền thuộc địa Pháp để kiếm sống và tham gia quân đồn trú ở Lai Châu. Sau 2 năm thì được chuyển về Hà Nội và ông đào ngũ, nhờ đó thoát nạn trong vụ đảo chính của Nhật vào ngày 9 tháng 3 năm 1945.

Chiến tranh chống thực dân Pháp (1945-1954)[sửa | sửa mã nguồn]

Được sự vận động của cán bộ Việt Minh, tháng 7 năm 1945 ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông tham gia Cứu quốc quân Hà Nội và lấy tên mới là Hoàng Cầm theo phong trào đổi tên mới để bước vào cuộc đời mới bấy giờ. Theo bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Phan Hoàng (tạp chí Kiến thức ngày nay) thì do không đi học và mù chữ, ông chỉ dự định "tham gia quân đội một thời gian rồi quay về quê kiếm vốn buôn bán làm ăn".

Từ năm 1946 đến năm 1949, ông làm cán bộ chỉ huy từ cấp tiểu đội đến đại đội ở Trung đoàn 148, tham gia mặt trận Sơn La. Theo phong trào xóa mù chữ và yêu cầu bắt buộc đối với cấp chỉ huy, ông bắt đầu tham gia lớp học bình dân học vụ. Năm 1947, ông bị thương trong một trận đánh ở Đà Bắc và kể từ đó ông viết bằng tay trái.

Năm 1949, ông được điều về Trung đoàn 209 (còn có tên Trung đoàn Sông Lô, một trong những trung đoàn Chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam), làm tiểu đoàn phó, rồi tiểu đoàn trưởng, tham gia trận đánh Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới 1950. Trong trận Điện Biên Phủ, ông là trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, chỉ huy đánh chiếm sở chỉ huy cứ điểm Điện Biên Phủ.

Chiến tranh chống Mỹ (1954-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận Điện Biên Phủ, ông được đề bạt giữ chức Đại đoàn phó kiêm tham mưu trưởng Đại đoàn 312. Cuối năm 1954, ông được cử giữ chức Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy thay cho ông Lê Trọng TấnTrần Độ. Sau 1954, Đại đoàn được cải tổ phiên chế thành Sư đoàn 312 và ông trở thành Sư đoàn trưởng. Năm 1960, ông được phong hàm Đại tá.

Năm 1964, ông được cử vào Nam, nhận chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng. Sau đó, ông được cử giữ chức Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân Giải phóng, dưới quyền Trung tướng Tư lệnh Trần Văn Trà. Ông làm chỉ huy ở bộ tư lệnh Miền suốt thời gian lực lượng bộ đội chủ lực Miền đóng ở Nam bộ, rồi Campuchia, tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Ngày 20 tháng 7 năm 1974, Quân đoàn 4 (còn gọi là Binh đoàn Cửu Long) được thành lập trên cơ sở của Đoàn 301, ông được cử làm tư lệnh. Ông là người chỉ huy quân đoàn này đánh vào Xuân Lộc, khai thông con đường phía đông cho quân đoàn 2 tiến vào.

Chiến tranh biên giới Tây Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Ủy ban quân quản Sài Gòn được thành lập, ông được cử làm Phó chủ tịch ủy ban quân quản. Năm 1978, xung đột biên giới Tây Nam Việt Nam nổ ra, ông được cử làm chỉ huy lực lượng quân đoàn 4 tấn công vào hoàng cung Campuchia.

Những năm hòa bình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 4 (1982-1986), Tổng thanh tra quân đội (1987-1992), hàm Thượng tướng. Ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, 4 Huân chương Quân công và nhiều huân, huy chương khác.

Ông đượng phong hàm Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1982, Thượng tướng năm 1984.

Ông lập gia đình với bà Thành Kiều Vượng năm 1955 và có với nhau 5 người con.

Ông đã từ trần hồi 14 giờ 30 phút ngày 19/8/2013, tại Bệnh viện quân y 175, thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 93 tuổi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]