Hokuriku Shinkansen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hokuriku Shinkansen
Shinkansen jrw.svgShinkansen-E.svg
W7 series set W3 20150207.jpg
Tàu thế hệ W7 series của JR West đang chạy trên tuyến Hokuriku Shinkansen
Thông tin chung
KiểuShinkansen
Tình trạngOperational
Vị tríTokyo; Saitama, Gunma, Nagano, Niigata, Toyama, Ishikawa, Fukui
Ga cuốiTakasaki
Kanazawa
Hoạt động
Hoạt động1 tháng 10 năm 1997
Điều hànhJR logo (east).svg JR East, JR logo (west).svg JR West
Trạm bảo trìNagano, Hakusan
Thế hệ tàuE7 series, W7 series
Thông tin kỹ thuật
Khổ đường sắt1.435 mm (4 ft 8 12 in)
Bán kính
tối thiểu
4,000 m
Điện khí hóa25 kV AC, 50/60 Hz, overhead catenary
Tốc độ260 km/h (160 mph)
Bản đồ hành trình

Hokuriku Shinkansen

Hokuriku Shinkansen (北陸新幹線 (Bắc Lục Tân Cán Tuyến)?) là một tuyến shinkansen (đường sắt cao tốc) được liên kết vận hành bởi Công ty đường sắt Đông Nhật Bản (JR East) và Công ty đường sắt Tây Nhật Bản (JR West), kết nối Tokyo với Kanazawa nằm ở vùng Hokuriku của Nhật Bản. Đoạn đầu tiên nối TakasakiNagano ở tỉnh Nagano được khánh thành vào ngày 1 tháng 10 năm 1997, vốn có tên cũ là Nagano Shinkansen (長野新幹線 (Trường Dã Tân Cán Tuyến)?) (từ Takasaki tới Tokyo được phục vụ bởi tuyến Joetsu Shinkansen). Tuyến được mở rộng tới Toyama ở tỉnh ToyamaKanazawa ở tỉnh Ishikawa hoàn thành vào ngày 14 tháng 3 năm 2015.[1] Việc mở rộng tới FukuiTsuruga ở tỉnh Fukui được bắt đầu vào năm 2012, và dự kiến hoàn thành vào năm tài chính 2022. Đoạn cuối cùng kéo dài tới Shin-Osaka được thông qua kế hoạch vào ngày 20 tháng 12 năm 2016 có tên là lộ trình Obama - Kyoto,[2] được kì vọng sẽ khởi công vào năm 2030 và mất 15 năm để hoàn thành.

Tên của các đoàn tàu - dịch vụ trên tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 3 năm 2015, các dịch vụ được chia thành bốn loại, với các tàu có tên dưới đây.[3] Các tàu dùng chung ray với tuyến Jōetsu ShinkansenTohoku Shinkansen đoạn giữa Tokyo và Takasaki.

  •      Kagayaki: Tokyo - Kanazawa, chỉ dừng ở một số ga lớn, bắt đầu từ 14 tháng 3 năm 2015
  •      Hakutaka: Tokyo - Kanazawa, hầu như dừng ở tất cả các ga, bắt đầu từ 14 tháng 3 năm 2015
  •      Tsurugi: Toyama - Kanazawa, dừng ở tất cả các ga, bắt đầu từ 14 tháng 3 năm 2015
  •      Asama: Tokyo - Nagano, hầu như dừng ở tất cả các ga, tương ứng với tuyến Nagano Shinkansen trước đó được khánh thành năm 1997

Tàu Nagano Shinkansen Asama ra mắt năm 1997 đã thay thế cho các chuyến tốc hành hữu hạn (limited express) của Tuyến Shin'etsu Chính cũng có tên là Asama, mà trước đây phải mất 2 giờ 50 phút để đi từ Tokyo (Ga Ueno) tới Nagano. Do có tuyến Shinkansen, phần tuyến từ Yokokawa tới Karuizawa được dừng hoạt động, trong đó có bao gồm cả đoạn leo núi Usui Pass vốn phải cần tới động cơ tăng cường (bank engine) trên toàn bộ tất cả các tàu.

Danh sách nhà ga[sửa | sửa mã nguồn]

Tên ga Hán tự Khoảng cách tính từ Takasaki (km) Có thể chuyển tuyến Vị trí
Tohoku Shinkansen
Tokyo 東京 -108,6 Chiyoda Tokyo
Ueno 上野 -105 Taitō
Ōmiya 大宮 -77,3
Ōmiya-ku, Saitama Saitama
Joetsu Shinkansen
Ōmiya 大宮 Ōmiya-ku, Saitama Saitama
Kumagaya 熊谷 -40,7 Kumagaya
Honjō-Waseda 本庄早稲田 -19,6 Honjō
Takasaki 高崎 0.0 Takasaki Gunma
Hokuriku Shinkansen
Takasaki 高崎 Takasaki Gunma
Annaka-Haruna 安中榛名 18,5 Annaka
Karuizawa 軽井沢 41,8 Shinano Railway Symbolmark.svg Tuyến Shinano Railway Karuizawa, Kitasaku Nagano
Sakudaira 佐久平 59,4 Tuyến Koumi Saku
Ueda 上田 84,2 Ueda
Nagano 長野 117,4 Nagano
Iiyama 飯山 147,3 Tuyến Iiyama Iiyama
Jōetsumyōkō 上越妙高 176,9 Echigo-TOKImeki logomark.svg Tuyến ETR Myōkō Haneuma Jōetsu Niigata
Itoigawa 糸魚川 213,9 Itoigawa
Kurobe-Unazukionsen 黒部宇奈月温泉 253,1 Tuyến đường sắt Toyama Chihō Chính Kurobe Toyama
Toyama 富山 286,9 Toyama
Shin-Takaoka 新高岡 305,8 Tuyến Jōhana Takaoka
Kanazawa 金沢 345,4 Kanazawa Ishikawa
Đang xây dựng; dự kiến mở cửa vào năm tài chính 2022
Komatsu 小松 372,6 Tuyến Hokuriku Chính Komatsu Ishikawa
Kagaonsen 加賀温泉 387,2 Tuyến Hokuriku Chính Kaga
Awaraonsen 芦原温泉 403,4 Tuyến Hokuriku Chính Awara Fukui
Fukui 福井 421,4 Fukui
Nanetsu[Ghi chú 1] 南越 440,4   Echizen
Tsuruga 敦賀 466,1 Tsuruga
(Đoạn giữa Tsuruga và Shin-Osaka chưa hoàn thành.)
  1. ^ a ă Mặc dù bến cuối chính thức của Tuyến Ryōmō là Shin-Maebashi và của Tuyến AgatsumaShibukawa, nhưng các tàu của 2 tuyến này đều chạy tiếp nối (chuyển tuyến nhưng giữ nguyên tàu) tới Takasaki.
  2. ^ Mặc dù bến cuối chính thức của Tuyến Iiyama là Toyono, nhưng các tàu của tuyến này đều chạy tiếp nối (chuyển tuyến nhưng giữ nguyên tàu) tới Nagano.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên dự kiến.

Thế hệ tàu[sửa | sửa mã nguồn]

  • E7 series 12 toa "F sets" (từ 15 tháng 3 năm 2014)[4]
  • W7 series 12 toa "W sets" (từ 14 tháng 3 năm 2015)

Thời kì đầu của tuyến Nagano Shinkansen, các tàu được sử dụng là JR East thế hệ E2 series 8 toa. Một bộ 17 tàu mới thế hệ E7 series 12 toa được gia nhập vào tháng 3 năm 2014, và tiếp đó là 10 tàu JR West thế hệ W7 series 12 toa được ra mắt tháng 3 năm 2015. Các tàu cũ E2 series được cho nghỉ hưu trên toàn tuyến Hokuriku Shinkansen từ ngày 31 tháng 3 năm 2017.[5]

Thế hệ tàu quá khứ[sửa | sửa mã nguồn]

  • E2 series 8 toa bộ "N", chỉ hoạt động đoạn Tokyo - Nagano Asama
  • E2 series 8 toa bộ "J"
  • E4 series 8 toa bộ "P50/P80" có tên riêng là Max Asama
  • 200 series 12 toa bộ F80 chỉ hoạt động trong tháng 2 năm 1998

Thế hệ E2 series 8 toa bộ "J" ban đầu, chủ yếu được sử dụng cho Tohoku Shinkansen và cũng được sử dụng cho một vài chuyến Asama cho đến khi được kéo dài trở thành 10 toa. Một biến thể đặc biệt của tàu 200 series, mang số hiệu F80, được sử dụng tăng cường cho các chuyến Asama và tháng 2 năm 1998 trong kỳ Thế vận hội Mùa đông 1998 được tổ chức tại Nagano. Các tàu được thiết kế để hoạt động được với dòng xoay chiều 25 kV ở cả tần số 50 Hz và 60 Hz từ dây cấp điện cao thế phía trên, kết hợp các biện pháp tối ưu trọng lượng để đảm bảo giới hạn tải trọng trục 16 tấn, và bao gồm các thiết bị kiểm soát bổ sung để hoạt động được ở địa hình có độ dốc 30 của tuyến Nagano Shinkansen.[6] Tốc độ tối đa được giới hạn là 210 km/h (130 mph).[6] Chuyến cuối cùng còn sử dụng tàu 8 toa thế hệ E2 series là ngày 31 tháng 3 năm 2017, kể từ đây tất cả các chuyến Asama đều sử dụng đội tàu thế hệ E7 và W7.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nagano Shinkansen[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn đầu tiên giữa Takasaki và Nagano mở cửa ngày 1 tháng 10 năm 1997, trong thời gian của Thế vận hội Mùa đông 1998 ở Nagano.

Giữa tháng 5 năm 2012 và tháng 3 năm 2014, các sàn chờ nhà ga trên tuyến Nagano Shinkansen được mở rộng phần mái để phù hợp với tàu thế hệ E7 series 12 toa gia nhập đội tàu từ tháng 3 năm 2014.[8] Tuyến Hokuriku Shinkansen mở rộng từ Nagano tới Kanazawa mở cửa vào tháng 3 năm 2015.[8] Đoạn mở rộng dài 113 km Kanazawa tới Tsuruga được phê duyệt xây dựng vào tháng 6 năm 2012.[9]

Từ thời điểm thay đổi giờ tàu vào ngày 15 tháng 3 năm 2014, độ tàu E7 series được ra mắt cho các chuyến Asama.[4] Ban đầu là 7 chuyến khứ hồi mỗi ngày, sau đó được tăng thành 11 chuyến khứ hồi mỗi ngày từ 19 tháng 4 năm 2014.[4]

Mở rộng ra ngoài Nagano[sửa | sửa mã nguồn]

Thi công xây dựng đoạn mở rộng cho tuyến Hokuriku Shinkansen gần Ga Kanazawa vào tháng 3 năm 2008

Việc mở rộng từ Nagano tới Kanazawa được hoàn thành vào ngày 24 tháng 5 năm 2014.[10] Khi dịch vụ bắt đầu vào tháng 3 năm 2015, đi lại giữa Tokyo và Toyama được rút ngắn đi khoảng 2 giờ, với Kanazawa rút ngắn thêm được 30 phút nữa.[10] Việc phê duyệt cuối cùng để bắt đầu xây dựng tới Fukui là vào tháng 12 năm 2011, cùng với việc sửa đổi hoạt động cho Ga Fukui đã được tiến hành trong nhiều năm do dự đoán sẽ mở rộng.[11] Đoạn kéo dài tới Tsuruga được phê duyệt vào ngày 30 tháng 6 năm 2012,[12] và dự kiến ra mắt vào năm tài chính 2022.[13] Kể từ Ga Jōetsumyōkō, tuyến được điều hành bởi Công ty đường sắt Tây Nhật Bản (JR West) thay cho Công ty đường sắt Đông Nhật Bản (JR East).[14]

Chạy thử[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chạy thử trên đoạn của JR East từ Nagano tới Kurobe-Unazukionsen tiến hành vào ngày 1 tháng 12 năm 2013, sử dụng tàu kiểm thử tốc độ chậm "East i".[15] Từ 6 tháng 12, bắt đầu sử dụng tàu 10 toa thế hệ E2 series để chạy thử, và tăng giới hạn tốc độ dần dần lên 260 km/h (160 mph).[15] Việc chạy thử được tiếp tục cho tới cuối tháng 3 năm 2014.[15] Chạy thử toàn tuyến giữa Nagano và Kanazawa (Hakusan Depot) bắt đầu từ 1 thán 8 năm 2014, sử dụng tàu kiểm thử "East i".[16] Việc chạy thử sử dụng tàu thế hệ W7 series được thực thiện vào ngày 5 tháng 8 năm 2014, bắt đầu với tốc độ chậm trên đoạn của JR West quản lý từ Kanazawa tới Jōetsumyōkō.[17]

Kế hoạch tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Construction of the Hokuriku Shinkansen near Fukui Station in August 2007

Đoạn cuối cùng từ Tsuruga tới Osaka đã hoàn thành vào ngày 20 tháng 12 năm 2016 có tên là Đoạn 'Obama-Kyoto.[2] Bốn lựa chọn mở rộng dưới đây vẫn đang được khảo sát đánh giá,[13] lựa chọn thứ 5 được đưa ra bởi chính quyền địa phương.[18]

  1. Maibara Route (米原ルート (Mễ Nguyên)?): Xây dựng một đường ray shinkansen chuẩn đi tới Ga Maibara. Nó dài bằng một phần ba chiều dài của đường Obama Route, giúp giao thông thuận lợi hơn về hướng Kyoto và Nagoya. Nó sẽ dẫn đến thời gian di chuyển đến Osaka dài hơn các cách khác, và các tàu sẽ phải dùng chung đường ray hiện tại, vốn hoạt động gần hết công suất của tuyến Tokaido Shinkansen giữa Maibara và Shin-Osaka.
  2. Kosei Route (湖西ルート (Hồ Tây)?): Không cần xây dựng thêm đường ray; thay vào đó, nâng cấp Tuyến Kosei đi tới Kyoto, bằng cách sửa lại khổ đường ray nhằm đáp ứng các tàu Mini-Shinkansen, hoặc sử dụng các tàu thiết kế chạy được với nhiều loại khổ ray - Gauge Change Train (GCT). Đây là phương án tiết kiệm chi phí nhất, tuy nhiên tốc độ tối đa của tàu bị giới hạn ở mức 160 km/h (100 mph) và do đó thời gian di chuyển sẽ kéo dài hơn so với các đoạn khác.
  3. Obama Route (小浜ルート (Tiểu Banh)?): Được đề xuất lần đầu vào 1973,[13] phương án này bao gồm việc xây mới toàn bộ một tuyến shinkansen chuẩn giữa ObamaKameoka. Đây sẽ là tuyến ngắn nhất đi tới Osaka, nhưng lại đắt đỏ nhất (chi phí xây dựng vào khoảng 1 nghìn tỷ yên), và tuyến cũng không đi qua Kyoto.
  4. Obama-Kyoto Route (小浜・京都ルート (Tiểu Banh・Kinh Đô)?): phương án được đưa ra lần đầu vào tháng 8 năm 2015, bao gồm đề xuất Obama Route ở trên (mạn phía Tây) và xây dựng một tuyến shinkansen mạn phía Nam để liên kết với tuyến Tokaido Shinkansen ở Kyoto. Việc đi qua Kyoto của tuyến được cho là sẽ thu hút thêm hành khách cũng như khách du lịch.[13]
  5. Maizuru Route (舞鶴ルート (Vũ Hạc)?): Đưa ra với chính trị gia Kyoto, đề xuất của ông Shoji Nishida là từ Tsuruga, thông qua Obama, tới Maizuru và hướng đông-nam tới Kyoto, mạn phía đông Osaka và Sân bay Quốc tế Kansai.[18] Lựa chọn này không đòi hòi chi phí tuy nhiên sẽ trở thành đắt nhất nếu như xét về tính mở rộng. Phương án này nếu thực hiện sẽ thúc đẩy phát triển cho vùng Maizuru dựa theo chính sách của Chính phủ Quốc gia, cùng với khu quân sự Maizuru Maritime Self-Defence Force Base và một vài các nhà máy điện nguyên tử sẽ thúc đẩy việc giao thông trên tuyến. Lựa chọn mở rộng về phía Nam của Kyoto đi tới một ga Osaka mới (năm ở Đông Nam của Osaka) và Sân bay Quốc tế Kansai được cho là sẽ chia sẻ được lưu lượng giao thông cho Tuyến Tokaido.

Một ủy ban chính phủ cân nhắc việc sẽ chọn phương án nào từ tháng 4 năm 2016 to rút ngắn lựa chọn về 3 phương án từ Tsuruga đến Kyoto và 2 phương án từ Kyoto đến Shin-Osaka (một tuyến phía bắc qua Minoh và tuyến phía nam qua Kansai Science City). Vào ngày 6 tháng 3 năm 2017, chính phủ công bố lựa chọn phương án từ Kyoto đến Shin-Osaka là sẽ đi qua Kyotanabe, và một ga khác ở Matsuiyamate trên Tuyến Katamachi.[19][20] Đã có thảo luận trước đây về việc định tuyến đường đến Tennoji, một ga cuối ở đông nam Osaka, cho phép mở rộng tuyến tới ga Kansai Airport.[21][22]

Kế hoạch tạm thời[sửa | sửa mã nguồn]

Để duy trì doanh thu của tuyến Hokuriku Shinkansen tới các ga nằm về phía Tây Tsuruga cho tới khi đoạn kết nối đến Osaka được hoàn thành, JR West đang phối hợp với đối tác Talgo để phát triển một loại tàu chạy được đa loại khổ đường ray - Gauge Change Train (CGT), và đa điện lưới: phù hợp với dòng xoay chiều 25 kV cho các tuyến Shinkansen nói chung và dòng một chiều 1,5 kV cho các tuyến đường sắt thường. Tàu 6 toa chạy thử trên tuyến Hokuriku Shinkansen và khổ 1067 mm của các Tuyến Hokuriku và Kosei vào năm 2017. Cũng trong khuôn khổ của dự án này, JR West đang xây dựng các đoạn thử nghiệm với mục đích xây dựng được một hệ thống chuyển ray 180m tại ga Tsuruga.[23]

Các tuyến tàu thường có chạy song song với tuyến Hokuriku Shinkansen[sửa | sửa mã nguồn]

Với việc khai trương đoạn đầu tiền của tuyến Nagano Shinkansen vào tháng 10 năm 1997, đoạn chạy song song (khổ hẹp) của Tuyến Shinetsu Chính từ Karuizawa đến Shinonoi đã được chuyển giao điều hành từ JR East sang công ty Shinano Railway, và trở thành Tuyến đường sắt Shinano.

Về việc mở rộng tuyến Hokuriku Shinkansen về phía Bắc của Nagano vào ngày 14 tháng 3 năm 2015, đoạn chạy song song đã được chuyển giao từ các công ty chịu quản lý của JR sang các công ty TNHH có một thành viên nhà nước hoặc tỉnh có tuyến đường sắt đi qua quản lý. Tổng chiều dài 252,2 km (156,7 mi) đoạn giữa Nagano và Kanazawa được chuyển giao cho 4 công ty vận hành, bao gồm 75,0 km (46,6 mi) đường sắt của Tuyến Shinetsu Chính giữa Nagano và Naoetsu, 177,2 km (110,1 mi) đường sắt của Tuyến Hokuriku Chính giữa Naoetsu và Kanazawa.[24] Chi tiết về bốn công ty được chuyển giao vận hành cùng tên tuyến mà các công ty này quản lý được liệt kê dưới đây.[24]

Đoạn Chiều dài (km) Tên tuyến cũ Công ty quản lý cũ Ngày chuyển giao Tên tuyến mới Công ty quản lý mới
Karuizawa - Shinonoi 65,1 Tuyến Shinetsu Chính JR East 1 tháng 10 năm 1997 Tuyến đường sắt Shinano Shinano Railway
Nagano - Jōetsumyōkō 37,3 14 tháng 3 năm 2015 Tuyến Shinano Railway Kita-Shinano
Jōetsumyōkō - Naoetsu 37,7 Tuyến Myōkō Haneuma Echigo Tokimeki Railway
Naoetsu - Ichiburi 59,3 Tuyến Hokuriku Chính JR West Tuyến Nihonkai Hisui
Ichiburi - Kurikara 100,1 Tuyến đường sắt Ainokaze Toyama Ainokaze Toyama Railway
Kurikara - Kanazawa 17,8 Tuyến đường sắt IR Ishikawa IR Ishikawa Railway

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 北陸新幹線、来年3月14日開業 東京―金沢2時間半 [Hokuriku Shinkansen to open 14 March next year: Tokyo - Kanazawa in two and a half hours]. Tokyo Shimbun Web (bằng tiếng Japanese). Japan: Chunichi Shimbun. 27 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014. 
  2. ^ a ă UK, DVV Media. “Hokuriku extension route agreed”. railwaygazette.com. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018. 
  3. ^ 北陸新幹線 長野~金沢間開業に伴う運行計画の概要について [Outline of service plans for opening of Hokuriku Shinkansen from Nagano to Kanazawa] (PDF). News release (bằng tiếng Japanese). Japan: JR East & JR West. 27 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2014. 
  4. ^ a ă â 3月15日ダイヤ改正と各地の話題  [15 March timetable revision and topics from around the regions]. Tetsudō Daiya Jōhō Magazine (bằng tiếng Japanese) (Japan: Kōtsū Shimbun) 43 (361): 12. Tháng 5 năm 2014. 
  5. ^ 北陸新幹線「E2系」今月引退…五輪輸送で活躍 [Hokuriku Shinkansen E2 series to be withdrawn this month - Played an active role in transportation during the Olympics]. Yomiuri Online (bằng tiếng Japanese). Japan: The Yomiuri Shimbun. 21 tháng 3 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  6. ^ a ă 200系F80編成 [200 series set F80]. Japan Railfan Magazine (Japan: Koyusha Co., Ltd.) 38 (444): 64. Tháng 4 năm 1998. 
  7. ^ E2系N編成“あさま”の営業運転終了 [E2 series N set Asama services end]. Japan Railfan Magazine Online (bằng tiếng Japanese). Japan: Koyusha Co., Ltd. 1 tháng 4 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2017. 
  8. ^ a ă Ito, Tadayuki (3 tháng 5 năm 2012). 新幹線ホーム屋根延長へ 長野県内各駅、金沢延伸に備え [Nagano Prefecture shinkansen station platforms to have roofs extended in preparation for extension to Kanazawa]. The Asahi Shimbun Digital (bằng tiếng Japanese). Japan: The Asahi Shimbun Company. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012. 
  9. ^ Kyodo News, "Bullet-train extensions approved", The Japan Times, 30 June 2012, p. 2
  10. ^ a ă Igata, Katsuhiro (25 tháng 5 năm 2014). “Hokuriku Shinkansen line between Nagano, Kanazawa completed”. ajw.asahi.com. Asahi Shimbun. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  11. ^ [1] Lưu trữ 5 January 2012 tại Wayback Machine.
  12. ^ [2]
  13. ^ a ă â b 北陸新幹線延伸「小浜・京都ルート」も検討 JR西日本 [JR West also considering Obama-Kyoto route for Hokuriku Shinkansen extension]. Asahi Shimbun Digital (bằng tiếng Japanese). Japan: The Asahi Shimbun Company. 29 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2015. 
  14. ^ Kyodo News, "DPJ may OK three new bullet-train sections", The Japan Times, 17 December 2011, p. 1.
  15. ^ a ă â 北陸新幹線、12月1日から走行試験 [Hokuriku Shinkansen test running to start from 1 December]. Webun (bằng tiếng Japanese). Japan: The Kitanippon Shimbun. 5 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  16. ^ E926形"East-i"が金沢(白山総合車両所)まで走行試験 [Class E926 "East i" test run to Kanazawa (Hakusan Depot)]. Tetsudo Hobidas (bằng tiếng Japanese). Japan: Neko Publishing. 4 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  17. ^ 北陸新幹線金沢~上越妙高間でW7系による走行試験が始まる [Test-running using W7 series begins on Hokuriku Shinkansen between Kanazawa and Jōetsumyōkō]. Tetsudo Hobidas (bằng tiếng Japanese). Japan: Neko Publishing. 5 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2014. 
  18. ^ a ă Johnston, Eric (24 tháng 1 năm 2016). “Politics heating up over Hokuriku Shinkansen Line’s undecided last leg”. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018 – qua Japan Times Online. 
  19. ^ お知らせ: 京都新聞. www.kyoto-np.co.jp. Kyoto News. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018. 
  20. ^ 北陸新幹線“京田辺市ルート”最終調整へ|日テレNEWS24. news24.jp. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018. 
  21. ^ “終点は新大阪駅 与党検討委、北陸新幹線延伸で一本化”. The Nikkei. 26 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016. 
  22. ^ 北陸新幹線、「けいはんな」通る第3案 京都と大阪間、与党委. The Nikkei. 12 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2016. 
  23. ^ http://www.railjournal.com/index.php/high-speed/talks-begin-on-hokuriku-shinkansen-extension.html?channel=523%20*%20*
  24. ^ a ă Osano, Kagetoshi (tháng 3 năm 2015).  北陸新幹線並行在来線各社の姿 [Guide to companies operating conventional lines alongside the Hokuriku Shinkansen]. Tetsudō Daiya Jōhō Magazine (bằng tiếng Japanese) (Japan: Kōtsū Shimbun) 44 (371): 28–33. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Các tuyến đường sắt của Công ty Đường sắt Tây Nhật Bản Bản mẫu:Các tuyến đường sắt cao tốc