Lâm Duy Hiệp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lâm Duy Hiệp (林維浹,[1] 1806-1863) có sách ghi là Lâm Duy Thiếp, tự: Chính Lộ, hiệu: Thất Trai; là đại thần triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1862, ông và Phan Thanh Giản được cử vào Gia Định để hòa giải với thực dân Pháp. Kết quả là Hòa ước Nhâm Tuất ra đời, bị nhiều sĩ dân ở đất nước ông (nhất là ở Nam Kỳ) phê phán vì bất bình đẳng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Duy Hiệp sinh tại thôn An Nhơn, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định (nay là huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Ông gốc người Minh Hương, trước có tên là hay Lâm Duy Nghĩa, sau mởi cải là Lâm Duy Hiệp (hay Thiếp).

Thuở nhỏ, ông có tiếng là thông minh, nhanh nhẹn. Năm 1828 đời Minh Mạng, ông thi đỗ cử nhân, được bổ làm tri huyện, rồi tri phủ.

Năm 1837, ông được thăng thị độc học sĩ sung tham biện việc Nội các, rồi cất lên làm thị lang vẫn sung tham biện việc Nội các.

Năm 1841, vua Thiệu Trị kế ngôi, ban ông hàm tham tri, chuẩn cho ăn lương tòng nhị phẩm.

Năm 1842, nhà vua tuần du ra Bắc, ông được cử đi theo để lo việc nội các ở nơi hành tại. Khi về, ông được bổ làm hữu tham tri bộ Binh, rồi đi duyệt binh ở 6 tỉnh Nam Kỳ vào cuối năm ấy.

Năm 1846, thăng ông làm thự thượng thư bộ Công, chưa bao lâu thì đổi sang bộ Lễ, kiêm quản cả thị vệ.

Ngày 4 tháng 9 năm 1847, vua Thiệu Trị qua đời, vua Tự Đức kế ngôi. Theo di chiếu, sung Lâm Duy Hiệp làm phụ chính đại thần, và được vua mới thăng làm hiệp tá đại học sĩ.

Sau đó, gặp lúc một người nhà Thanh tên Lý Thái đến Huế buôn bán, ông xin phái nhân viên đưa của công sang Quảng Đông đổi chác[2], bị đình thần tham hặc đòi cách chức. Việc tâu lên, nhà vua chỉ cho giáng chức, bãi việc quản lĩnh, chỉ chuyên làm việc ở bộ Lễ.

Năm 1850, sung Lâm Duy Hiệp vào viện Cơ mật, kiêm Sử quán phó tổng tài, và làm cả công việc ở doanh Thủy sư tại kinh đô Huế. Tới kỳ xét công, ông được thăng 2 cấp. Cuối năm đó, ông và Trương Đăng Quế xin thôi làm phụ chính, được nhà vua phê thuận.

Năm 1853, ông xin về thăm quê, khi trở lại được đổi làm tổng đốc Hà Ninh, kiêm trông coi mỏ kẽm ở ba tỉnh là: Hải Dương, Thái NguyênBắc Ninh.

Năm 1854, Cao Bá Quát khởi binh chống Nguyễn ở Mỹ Lương (nay thuộc Hà Nội), có sự tham gia của Đinh Công Mỹ, một thổ mục ở Ninh Bình. Nhà vua Tự Đức liền lệnh cho ông, hiệp cùng tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Nguyễn Bá Nghi và tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Quốc Hoan đi truy bắt "đảng nghịch".

Vì muốn mau xong việc, Lê Duy Hiệp xin cho Lê Đạt Ký là người nhà Thanh ở bang Hưng Nghĩa đang cai quản phu mõ, để cùng lo đánh dẹp, bị nhà vua khiển trách là "hà tất phải mượn người ngoài lại sinh ra trở ngại khác", gíáng ông làm tuần phủ, nhưng vẫn cho lưu chức.

Lúc bấy giờ, dân trong tỉnh ông cai quản vừa bị loạn, vừa bị đói khát vì thiên tai mất mùa. Khâm phái khoa đạo Trương Ý báo về kinh là ông "không biết dự phòng, lúc lâm thời lại không hết sức chẩn tế" nên ông bị điều về rồi giáng làm tham tri bộ binh.

Năm 1858, lại sung ông làm Cơ mật viện. Xét ông tận tâm, nhà vua cất ông làm thượng thư.

Năm 1862, Lâm Duy Hiệp xin đi vào Gia Định để bàn việc hòa giải với thực dân Pháp, được nhà vua cử làm phó sứ. Việc không như mong đợi (bị mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, bị bồi thường chiến phí), ông và chánh sứ Phan Thanh Giản đều bị vua Tự Đức khiển trách nặng nề, bị sĩ dân Việt Nam (nhất là ở Nam Kỳ) oán thán (Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân). Liền sau đó, ông bị đổi làm tuần phủ ở Thuận Khánh, Phan Thanh Giản bị đổi làm tổng đốc Vĩnh Long để tìm cách chuộc lại lỗi lầm này.

Nhưng chỉ năm sau (1863), Lâm Duy Hiệp mất ở tuổi 57. Tuy vậy, ông vẫn bị triều đình Tự Đức nghị tội rồi cho truy đoạt cả phẩm hàm. Mãi đến khi vua Đồng Khánh kế ngôi (1885), nhờ đại thần Nguyễn Hữu Độ đứng ra tâu, ông mới được khai phục làm thị lang bộ Binh.

Ngày nay, chuyện ký kết cũ (hòa ước 1862) đã được xem xét lại, Phan Thanh Giản và ông không còn bị coi là "kẻ bán nước" nữa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam sử lược/Quyển II/Cận kim thời đại/Chương VII
  2. ^ Chép theo Đại Nam chính biên liệt truyện (tr. 577). Trong Quốc triều chính biên toát yếu không chép chuyện, nên cũng không rõ chi tiết.

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]