Let Go (album của Avril Lavigne)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Let Go
Album phòng thu của Avril Lavigne
Phát hành 4 tháng 6, 2002
Thu âm Tháng 5, 2001 – Tháng 3, 2002
Thể loại
Thời lượng 48:41
Hãng đĩa Arista
Sản xuất
Thứ tự album của Avril Lavigne
Let Go
(2002)
Under My Skin
(2004)
Đĩa đơn từ Let Go
  1. "Complicated"
    Phát hành: 14 tháng 5, 2002 (2002-05-14)
  2. "Sk8er Boi"
    Phát hành: 27 tháng 8, 2002 (2002-08-27)
  3. "I'm with You"
    Phát hành: 19 tháng 11, 2002 (2002-11-19)
  4. "Losing Grip"
    Phát hành: 1 tháng 4, 2003 (2003-04-01)

Let Go là album phòng thu đầu tay của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Canada Avril Lavigne, phát hành vào ngày 4 tháng 6, 2002. Trong suốt một năm sau khi kí hợp đồng với hãng ghi âm Arista, Lavigne đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm ra định hướng âm nhạc cho bản thân. Sau đó, Lavigne tái định cư tại Los Angeles, California, và tại đây cô bắt đầu thu âm những ca khúc đầu tiên cho album; tuy nhiên thể loại âm nhạc mà cô định hướng lúc đó lại không phù hợp với hãng ghi âm này. Cô đã hợp tác với đội sản xuất The Matrix, những người đã hiểu được tầm nhìn của cô cho album đầu tay.

Let Go sau khi phát hành đã được ghi nhận là một cú nổ lớn đối với một album nhạc pop đầu tay trong năm 2002. Nó nhận được nhiều phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, dù việc sáng tác của Lavigne vấp phải nhiều tranh cãi. Let Go cực kì thành công ở Canada, đạt chứng nhận đĩa Kim cương từ Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Canada,[1] cùng với nhiều đĩa bạch kim được chứng nhận ở một số quốc gia khác, trong đó có Vương quốc Anh, nơi cô trở thành nữ nghệ sĩ hát đơn trẻ nhất có một album đạt vị trí quán quân.

Tính đến tháng 12 năm 2013, Let Go đã bán được 20 triệu bản trên toàn thế giới,,[2] trở thành album bán chạy nhất trong sự nghiệp của Lavigne, tính đến nay.[3] Theo tạp chí Billboard, Let Go là album bán chạy nhất thứ 21 của thập niên 2000. Độc giả của Rolling Stone cũng bầu chọn Let Go đứng thứ tư trong danh sách những album hay nhất của thập niên.[4]

Phát hành và quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Avril Lavigne trong một buổi biểu diễn quảng bá cho album.

Album được phát hành vào ngày 4 tháng 6, 2002 tại Canada và Mỹ. Sau đó, vào ngày 22 tháng 7, Let Go được phát hành trên toàn thế giới, và đến ngày 26 tháng 8 album mới được phát hành tại một số nước châu Âu, trong đó có Anh và Ireland. Phiên bản DataPlay của album được phát hành trong tháng 9, 2002. Arista đã thành lập một thỏa thuận với DataPlay trước đó vào năm 2002, bao gồm Let Go cùng với một số album của ca sĩ nhạc rock Santana và ca sĩ Whitney Houston trong việc phát hành.[5]

Mặc dù âm nhạc của Lavigne đã được hướng mục tiêu đến các khán giả thanh thiếu niên, một chiến lược tiếp thị nhằm vào sự thành công trong sự nghiệp của cô đã được triển khai;[6] Lavigne đã biểu diễn trong một chương trình ngày lễ do đài phát thanh tài trợ cho nhiều ca sĩ trên khắp nước Mỹ,[7] chiến lược tiếp thị này có thể đem lại doanh thu cao hơn cho album trong cả quý. Cô bắt tay vào thực hiện chuyến lưu diễn diễn quảng bá đầu tiên của mình, Try To Shut Me Up Tour, bắt đầu vào ngày 23 tháng 1, 2003 và kết thúc vào ngày 4 tháng 6, 2003. Đi lưu diễn cùng với Lavigne là ban nhạc của cô - tay trống Matthew Brann, tay bass Mark Spicoluk, và hai tay guitar Jesse Colburn và Evan Taubenfeld - nhóm nhạc mà cô đã tập hợp lại sau khi kí hợp đồng với Arista.[8] Trong chuyến lưu diễn, cô biểu diến tất cả các bài hát trong Let Go, các bài hát ở mặt B, phiên bản hát lại của "Knockin' on Heaven's Door" bởi Bob Dylan và "Basket Case" bởi Green Day.[9]

Lavigne đã quay phim lại buổi biểu diễn của cô tại Buffalo, New York vào ngày 15 tháng 5, 2003, buổi biểu diễn cuối cùng trong chuyến lưu diễn năm tuần của cô ở Bắc Mỹ. DVD của buổi biểu diễn này, My World, được phát hành vào ngày 4 tháng 11, 2003, với sự liên doanh giữa Arista Records và 20th Century Fox Home Entertainment. DVD bao gồm toàn bộ buổi biểu diễn, một số cảnh hậu trường, năm video âm nhạc và một CD đính kèm với sáu bài hát trong đó có một bài hát chưa từng được phát hành trước đó, "Why".[10]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Complicated" được phát hành bởi Arista với vai trò là đĩa đơn đầu tiên của album, và đồng thời cũng là một lời tự giới thiệu của Lavigne đối với tất cả mọi người ở mọi nhóm tuổi.[11] Video âm nhạc cho đĩa đơn này có cảnh Lavigne và ban nhạc của mình quậy phá trong một trung tâm mua sắm. "Complicated" là một bài hát nổi tiếng, đạt được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng của nhiều quốc gia trên toàn thế giới, đồng thời được đề cử hai Giải Grammy cho hạng mục Bài hát của NămTrình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất.
  • "Sk8er Boi", đĩa đơn tiếp theo của album lại thiên về thể loại nhạc pop-punk.[11] Sự phát hành của "Sk8er Boi" đã tạo ra nhiều sự bất đồng ý kiến giữa các giám đốc đài phát thanh. Tuy nhiên, ấn tượng ban đầu của họ đã thay đổi khi các thính giả đã giúp thay đổi suy nghĩ của họ. Đĩa đơn đã nhanh chóng chứng minh sự thành công của nó, cho thấy nó phù hợp với những thính giả hậu-sinh viên cũng như lứa tuổi thanh thiếu niên, và nhờ đó nhanh chóng đạt được ngôi vị quán quân trên đài phát thanh mainstream của Mỹ.[12]
  • "I'm with You", bản ballad hiếm hoi trong albumđược phát hành vào cuối tháng 11, 2002, hướng vào ngày nghỉ lễ để nhắc nhở các bậc cha mẹ về album để, nếu họ không tự mua nó, thì cũng mua nó cho những đứa trẻ trong gia đình mình.[11][12] "I'm with You" nhanh chóng trở thành một bài hát nổi tiếng khác của Lavigne khi đạt được vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, vị trí quán quân trên đài mainstream, top 10 ở Anh và Canada. Bài hát không được phát hành chính thức ở Úc nhưng đã được phát sóng trên đài phát thanh và truyền hình. Bài hát đồng thời cũng nhận được hai đề cử Giải Grammy ở cùng hạng mục giống như "Complicated". Việc sắp xếp các đĩa đơn, với việc "I'm With You" làm đĩa đơn thứ ba được coi là một "sự lựa chọn gây tranh cãi", rằng "I'm With You" "theo suy nghĩ của nhiều người là một bài hát có tiềm năng lớn nhất trong album", và có thể đã giúp cho Lavigne trở thành một nghệ sĩ trưởng thành hơn nếu nó được phát hành đầu tiên.[12] Theo như Reid, "Một số người đã không thực sự nhận ra được điều đó. Và với video đầu tiên, đã có một số lo ngại cho rằng có lẽ vì nó quá trẻ con và tinh nghịch, nó có thể xa lánh những người yêu nhạc khó tính".[12]
  • "Losing Grip" được chọn làm đĩa đơn thứ tư từ album, "như để bắc cầu sang album phòng thu tiếp theo của cô", mà Lavigne tuyên bố là sẽ "nặng rock hơn" album đầu tay.[12] Tuy nhiên, đây lại là đĩa đơn kém thành công nhất của album.

Các bài hát khác[sửa | sửa mã nguồn]

Một số bài hát khác trong album lại chỉ được phát hành với vai trò là các đĩa đơn trên đài phát thanh địa phương. "Mobile" thì được phát hành trên đài phát hành của Úc và New Zealand. Sau đó bài hát lại được xuất hiện trong bộ phim The Medallion năm 2003, trong bộ phim Wimbledon năm 2004, và một xuất hiện ngắn ngủi trong bộ phim Just Married. Năm 2011, một video âm nhạc của bài hát đã được tuồn lên mạng.

Ngoài ra "Things I'll Never Say" được phát hành trên đài phát thanh của Ý. "Unwanted" được phát thành trên đài phát thanh Anh. Còn bài hát "Tomorrow" thì lại được xuất hiện trong một tập phim của bộ phim truyền hình Smallville mùa thứ hai của hãng Warner Bros..

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên nhạc phẩm Sáng tác Sản xuất[13] Thời lượng
1. "Losing Grip"   Avril Lavigne, Clif Magness Magness 3:53
2. "Complicated"   Lavigne, The Matrix The Matrix 4:03
3. "Sk8er Boi"   Lavigne, The Matrix The Matrix 3:23
4. "I'm with You"   Lavigne, The Matrix The Matrix 3:42
5. "Mobile"   Lavigne, Magness Magness 3:31
6. "Unwanted"   Lavigne, Magness Magness 3:40
7. "Tomorrow"   Lavigne, Curtis Frasca, Sabelle Breer Frasca, Breer* 3:48
8. "Anything But Ordinary"   Lavigne, The Matrix The Matrix 4:10
9. "Things I'll Never Say"   Lavigne, The Matrix The Matrix 3:43
10. "My World"   Lavigne, Magness Magness 3:26
11. "Nobody's Fool"   Lavigne, Peter Zizzo Zizzo 3:56
12. "Too Much to Ask"   Lavigne, Magness Magness 3:44
13. "Naked"   Lavigne, Frasca, Breer Magness, Frasca, Breer* 3:28

(*) Sản xuất bổ sung

Thành phần thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách thực hiện được lấy từ barnesandnoble.com.[14]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Escapology của Robbie Williams
Album quán quân Liên hiệp Anh
11 tháng 1, 2003 – 31 tháng 1, 2003
Kế nhiệm:
Justified của Justin Timberlake
Tiền nhiệm:
The Last Time của John Farnham
Album quán quân ARIA Albums Chart
9 tháng 12, 2002 – 26 tháng 1, 2003
Kế nhiệm:
8 Mile (nhạc phim) của Nhiều nghệ sĩ

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Argentina (CAPIF)[36] 2× Bạch kim 80.000x
Úc (ARIA)[37] 7× Bạch kim 490.000^
Áo (IFPI Austria)[38] Bạch kim 40,000x
Bỉ (BEA)[39] Vàng 25,000*
Brazil (ABPD)[40] 2× Bạch kim 250,000*
Canada (Music Canada)[41] Kim cương 1.000.000^
Đan Mạch (IFPI Denmark)[42] Bạch kim 40,000^
Phần Lan (Musiikkituottajat)[43] Vàng 16,256[43]
Pháp (SNEP)[44] 2× Vàng 373,800[45]*
Đức (BVMI)[46] 3× Vàng 450,000^
Hy Lạp (IFPI Greece)[47] Vàng 10.000^
Hồng Kông (IFPI Hong Kong)[48] Bạch kim 20.000*
Hungary (Mahasz)[49] Vàng 10.000x
Ireland (IRMA)[50] 8× Bạch kim 120.000x
Ý (FIMI)[51] Kim cương 500.000*
Nhật (RIAJ)[52] Kim cương 1,500,000[53]
Mexico (AMPROFON)[54] Vàng 75.000^
Hà Lan (NVPI)[55] Bạch kim 80.000^
New Zealand (RMNZ)[56] 5× Bạch kim 75.000^
Na Uy (IFPI Norway)[57] Bạch kim 30,000*
Ba Lan (ZPAV)[58] Vàng 35.000*
Bồ Đào Nha (AFP)[59] Bạch kim 40.000x
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[60] Bạch kim 100.000^
Thụy Điển (GLF)[61] Bạch kim 40,000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[62] 2× Bạch kim 80,000x
Taiwan (RIT)[63] 5× Bạch kim 150,000
Anh (BPI)[64] 5× Bạch kim 1,785,000^
Hoa Kỳ (RIAA)[65] 6× Bạch kim 6,900,000[66]
Tóm lược
Châu Âu (IFPI)[67] 2× Bạch kim 2.000.000*

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Giải Grammy năm 2003, Lavigne nhận được 5 đề cử: Album giọng pop xuất sắc nhất cho Let Go, Bài hát của nămTrình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho "Complicated", Trình diễn giọng rock nữ xuất sắc nhất cho "Sk8er Boi", và giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất. Tại Giải Grammy năm 2004, cô nhận được ba đề cử: Bài hát của năm và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho "I'm with You", và Trình diễn giọng rock nữ xuất sắc nhất cho "Losing Grip".

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả
2002 Giải thưởng âm nhạc Billboard Album xuất sắc nhất Đoạt giải
2003 Giải thưởng Juno Album nhạc pop xuất sắc nhất Đoạt giải
Album xuất sắc nhất năm Đoạt giải
Giải thưởng Đĩa vàng (Hồng Kông) 10 album xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải thưởng Đĩa vàng (Nhật Bản) Album Rock & Pop của năm Đoạt giải
Giải thưởng âm nhạc Brasil Album xuất sắc nhất Đoạt giải
Giải Sự lựa chọn của Giới trẻ Lựa chọn Âm nhạc: Album Đoạt giải
Premios Oye! Main English Female Đoạt giải
Giải Grammy Album giọng pop xuất sắc nhất Đề cử

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Canadian Recording Industry Association”. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ “The Official Avril Lavigne Site”. http://www.avrillavigne.com/us/bio. 
  3. ^ “Avril Lavigne Ends North American Run of Shows with Two Dates In Washington Beginning May 9”. transworldnews.com. Ngày 4 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2008. 
  4. ^ “Rolling Stone The Decade-End Readers' Poll”. rolling stone.com. Ngày 8 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011. 
  5. ^ Brian, Garrit (ngày 5 tháng 8 năm 2002). “Santana, Whitney, Lavigne Head To DataPlay”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009. [liên kết hỏng]
  6. ^ Eliscu, Jenny (ngày 20 tháng 3 năm 2003). “Little Miss Can't Be Wrong”. Rolling Stone. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2009. [liên kết hỏng]
  7. ^ Carpenter, Troy (ngày 4 tháng 12 năm 2002). “Avril's First Headlining Trek To Begin In Europe”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009. [liên kết hỏng]
  8. ^ Pak, SuChin; D'Angelo, Joe. “Avril Lavigne: The Real Deal”. MTV. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009. 
  9. ^ Benson, John (ngày 1 tháng 5 năm 2003). “Avril Lavigne / ngày 15 tháng 4 năm 2003 / Cleveland (CSU Convocation Center)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009. [liên kết hỏng]
  10. ^ Sporich, Brett; The Hollywood Reporter; Carpenter, Troy (ngày 18 tháng 9 năm 2003). “Fox/Arista Prep Avril, Neptunes DVDs”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009.  [liên kết hỏng]
  11. ^ a ă â Willman, Chris (ngày 1 tháng 11 năm 2002). “Avril Lavigne The Anti-Britney”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009. 
  12. ^ a ă â b c Willman, Chris (ngày 5 tháng 11 năm 2002). 'Boi,' Oh Boy”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2009. 
  13. ^ a ă “Avril Lavigne – Let Go”. Discogs. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2010. 
  14. ^ “Let Go: Details & Credits”. barnesandnoble.com. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2009. 
  15. ^ CAPIF “Representando a la Industria Argentina de la Música”. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2010. 
  16. ^ a ă “Avril Lavigne”. 
  17. ^ “Dutch Albums Chart”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  18. ^ “French Albums Chart”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  19. ^ “German Albums Chart”. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2010. [liên kết hỏng]
  20. ^ “Greek International Albums Chart by IFPI”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  21. ^ “Italian Albums Chart”. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2010. 
  22. ^ “Discography of Avril Lavigne”. Oricon. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  23. ^ “New Zealand RIANZ Albums Chart”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  24. ^ “Norwegian Albums Chart”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  25. ^ “Official Scottish Albums Chart Top 100”. 
  26. ^ “Swedish Albums Chart”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  27. ^ “Swiss Albums Chart”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  28. ^ “Official Albums Chart Top 100”. 
  29. ^ “End of Year Album Chart Top 100 - 2002”. Official Charts Company. 
  30. ^ “BILLBOARD 200 ALBUMS: YEAR END 2002”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016. 
  31. ^ “End of Year Album Chart Top 100 - 2003”. Official Charts Company. 
  32. ^ “BILLBOARD 200 ALBUMS: YEAR END 2002”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2016. 
  33. ^ “ARIA Chart Sales – ARIA End of Decade Albums/Top 100” (PDF). ARIA Charts. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2010. 
  34. ^ “Best of 2000s – Billboard 200 Albums”. Billboard. Nielsen Business Media. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2011. 
  35. ^ “Greatest of All Time: Billboard Top 200 Albums”. Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2015. 
  36. ^ “Argentina album certifications – Avril Lavigne – Let Go”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. 
  37. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2003 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  38. ^ “Austrian album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Avril Lavigne vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Let Go vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  39. ^ “Ultratop − Goud en Platina - 2003”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. 
  40. ^ “Brasil album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  41. ^ “Canada album certifications – Avril Lavigne – Let Go”. Music Canada. 
  42. ^ “Denmark album certifications – Avril Lavigne – Let Go”. IFPI Đan Mạch. 
  43. ^ a ă “Finland album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Phần Lan). IFPI Phần Lan. 
  44. ^ “France album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. 
  45. ^ http://www.infodisc.fr/CDCertif_Album.php?debut=750
  46. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Avril Lavigne; 'Let Go')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  47. ^ “Greek album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Hy Lạp). IFPI Hy Lạp. 
  48. ^ “IFPIHK Gold Disc Award − 2003”. IFPI Hồng Kông. 
  49. ^ “Adatbázis – Arany- és platinalemezek – 2003” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. 
  50. ^ “Ireland album certifications – Avril Lavigne – Let Go”. Irish Recorded Music Association. 
  51. ^ “Italy album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (PDF) (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. 
  52. ^ “Japanese album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Japanese). Recording Industry Association of Japan. 
  53. ^ McClure, Steve (9 tháng 8 năm 2003). “Japan Decline Continues”. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013. 
  54. ^ “México album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 
  55. ^ “Netherlands album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. 
  56. ^ “New Zealand album certifications – Avril Lavigne – Let Go”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. 
  57. ^ “Norway album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. 
  58. ^ “Poland album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. 
  59. ^ “Portugal album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Fonográfica Portuguesa. 
  60. ^ “Spain album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. 
  61. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2003” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. 
  62. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Avril Lavigne; 'Let Go')”. Hung Medien. 
  63. ^ “Taiwanese album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Chinese). RIT. 
  64. ^ “Britain album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry.  Nhập Let Go vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  65. ^ “American album certifications – Avril Lavigne – Let Go” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  66. ^ Trust, Gary (6 tháng 9 năm 2015). “Ask Billboard: Avril Lavigne's Best-Selling Songs & Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015. 
  67. ^ “IFPI Europe Awards – 2003”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]