Nam Trà My

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Trà My
Huyện
Địa lý
Diện tích 82.253ha
Dân số  
 Tổng cộng 24.511 người
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Quảng Nam
Phân chia hành chính 10 xã
Website www.namtramy.gov.vn

Nam Trà Myhuyện phía tây của tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Nam Trà My nằm trên ngã ba ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam với hai tỉnh Quảng NgãiKon Tum, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía đông nam, phía nam và phía tây nam giáp các huyện thuộc tỉnh Kon Tum. Phía Tây Bắc giáp huyện Phước Sơn, phía Bắc giáp huyện Bắc Trà My, đều là các huyện của tỉnh Quảng Nam.

Nam Trà My là huyện miền núi, nằm dưới chân dãy Ngọc Linh. Diện tích tự nhiên của huyện là 82.235 ha, tức là 822,35 km². Dân số vào thời điểm chia tách địa giới hành chính năm 2003 là 19.876 người, gồm các dân tộc Ca Dong (Xê Đăng), M'Nông, Co và dân tộc Kinh (chiếm chưa đến 2% dân số toàn huyện).

Huyện Nam Trà My nằm trên quốc lộ 40B nối tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum, toàn tuyến khoảng hơn 250 km.

- Khí hậu: Có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa; có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, mùa khô, từ tháng 2 đến tháng 8; nhiệt độ thấp nhất 7°C, nhiệt độ cao nhất 32°C; lượng mưa trung bình hằng năm 670-770mm. Độ cao trung bình 800m so với mực nước biển.

- Giao thông: Nằm ở trung tâm của hai tỉnh lỵ Kon Tum và Quảng Ngãi, hiện nay đã hình thành các tuyến đường nhánh nối liền giữa huyện Nam Trà My với các tỉnh lân cận như tuyến đường: Trà Leng - Phước Sơn nối đường Hồ Chí Minh; Quốc lộ 40B - Đăk Tô nối đường Hồ Chí Minh; Tuyến đường Đông Trường sơn (Lạc Dương - Lâm Đồng - Thạnh Mỹ - Nam Giang)

- Thổ nhưỡng: Đất đai, thổ nhưỡng chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng.

- Kinh tế: chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trồng sâm và các loại cây dược liệu, chưa hình thành khu công nghiệp, hiện nay có nhà máy thủy điện Trà Linh 3 và thủy điện sông Tranh 2.

- Sản phẩm đặc sản của địa phương: Gạo đỏ, Mật ong, Quế Trà My, các loại cây dược liệu đặc biệt là cây Sâm Ngọc Linh.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Trà My có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Trà Cang, Trà Don, Trà Dơn, Trà Leng, Trà Linh, Trà Mai, Trà Nam, Trà Tập, Trà Vân, Trà Vinh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Trà My từng là một phần của huyện Trà My cũ của tỉnh Quảng Nam. Ngày 20 tháng 6 năm 2003, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nghị định số 72/2003/NĐ-CP, chia tách huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam thành hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My như ngày nay.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với Bắc Trà My, huyện là vùng trồng quế nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam. Do có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp: độ cao địa hình khoảng 400–800 m nên biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn, khí hậu nhiệt đới lại được đèo Hải Vân chắn hết gió lạnh thổi từ phía Bắc, rất thích hợp với cây quế, nên cây quế phát triển rất tốt ở các xã Trà Dơn, Trà Leng, Trà Tập, Trà Mai, Trà Vân. Cây quế vùng này có hàm lượng tinh dầu rất cao. Ngoài Quế, Nam Trà My còn có một số dược liệu nổi tiếng khác như Sâm Ngọc Linh, Sơn Tra Ngọc Linh, Sâm Nam...

Sâm Ngọc Linh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sâm Ngọc Linh

Cây sâm Ngọc Linh là một cây đặc hữu của vùng núi Ngọc Linh, là cây thuốc quý hiếm của tỉnh Quảng Nam và của Quốc gia.

Theo kết quả nghiên cứu khoa học, sâm Ngọc Linh về mặt hóa học, thân và rễ củ sâm Ngọc Linh đã phân lập được 52 saponin, trong đó có 26 saponin thường thấy ở sâm Triều Tiên, sâm Mỹ, sâm Nhật. Trong lá và cọng lá đã phân lập được 19 saponin dammaran. Trong đó có 8 saponin có cấu trúc mới. Ngoài thành phần chính là saponin, trong lá và cọng lá sâm Ngọc Linh còn xác định có 17 acid amin, 20 khoáng chất vi lượng và hàm lượng glucid tinh dầu là 0,1%. Sâm Ngọc Linh là một loài dược liệu quý vào bậc nhất ở Việt Nam. Nó quý bởi giá trị về chất lượng của nó đã được các nhà  nghiên cứu chứng minh sâm Ngọc Linh có một số đặc điểm hơn cả sâm Trường Bạch (Triều Tiên) và hơn cả sâm Tây Dương (Mỹ). Và nó quý bởi nó đang sinh sống tự nhiên ở độ cao tuyệt đối trên 1.500m so với mặt nước biển. Ổn định ở vùng rừng già hỗn giao nguyên sinh mà tác động của con người gần như không đáng kể. Có tác dụng như:

- Bệnh nhân cảm thấy ăn ngon, ngủ tốt, tăng thể trọng, tăng thị lực, hoạt động trí lực và thể lực được cải thiện;

- Giảm mệt mõi, chống nhược sức lao động do lao động liên tục và quá tải;

- Gia tăng sức đề kháng của cơ thể trong các bệnh lý nhiễm trùng, hiệp lực với một số kháng sinh thông dụng,….

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]