ROCS Kuen Yang (DD-19)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
USS Yarnall (DD-541) in the Pacific, ca. 1944
Tàu khu trục USS Yarnall (DD-541) tại Thái Bình Dương, khoảng năm 1944
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Yarnall (DD-541)
Đặt tên theo: Đại úy Hải quân John Yarnall
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, San Francisco
Đặt lườn: 5 tháng 12 năm 1942
Hạ thủy: 25 tháng 7 năm 1943
Đỡ đầu bởi: bà Earl Groves
Nhập biên chế: 30 tháng 12 năm 1943
Tái biên chế: 28 tháng 2 năm 1951
Xuất biên chế: 15 tháng 1 năm 1947
30 tháng 9 năm 1958
Xóa đăng bạ: 25 tháng 1 năm 1974
Danh hiệu và
phong tặng:
7 × Ngôi sao Chiến trận (THế Chiến II);
2 × Ngôi sao Chiến trận (Chiến tranh Triều Tiên)
Số phận: Được chuyển cho Trung Hoa dân quốc (Đài Loan), 10 tháng 6 năm 1968
Phục vụ (Trung Hoa dân quốc)
Tên gọi: ROCS Kuen Yang (DD-19)
Trưng dụng: 10 tháng 6 năm 1968
Xếp lớp lại: DDG-919
Xóa đăng bạ: 16 tháng 10 năm 1999
Số phận: Tháo dỡ, 16 tháng 10 năm 1999
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fletcher
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 2.100 tấn Anh (2.100 t) (tiêu chuẩn)
2.924 tấn Anh (2.971 t) (đầy tải)
Độ dài: 376 ft 5 in (114,73 m) (chung)
Sườn ngang: 39 ft 08 in (12,09 m) (chung)
Mớn nước: 13 ft 9 in (4,19 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
2 × trục
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 36 kn (41 mph; 67 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
329 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

5 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (5×1);
2 × pháo phòng không Bofors 40 mm;
6 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);

6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu

ROCS Kuen Yang (DD-19) là một tàu khu trục lớp Fletcher thuộc biên chế Hải quân Trung Hoa Dân Quốc.

Tàu nguyên là USS Yarnall (DD-541) thuộc biên chế Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Đại úy Hải quân John Yarnall (1786-1815), sĩ quan Hải quân từng phục vụ trong cuộc Chiến tranh 1812Chiến tranh Barbary thứ nhất. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, xuất biên chế năm 1947 nhưng lại được cho tái biên chế năm 1951, tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên, rồi lại ngừng hoạt động năm 1958.

Yarnall được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Bethlehem Steel Co. ở San Francisco, California vào ngày 5 tháng 12 năm 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 25 tháng 7 năm 1943; được đỡ đầu bởi bà Earl Groves; và nhập biên chế vào ngày 30 tháng 12 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Benjamin F. Tompkins.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Fletcher là thế hệ tàu khu trục đầu tiên được thiết kế sau khi những giới hạn về kích cỡ tàu chiến của một loạt các hiệp ước hải quân trước đây mất hiệu lực. Sự phát triển về thiết kế một phần là giải pháp cho câu hỏi lớn luôn ám ảnh thiết kế của Hải quân Hoa Kỳ: tầm xa hoạt động cần thiết cho các chiến dịch tại Thái Bình Dương. Chúng phải mang theo không ít hơn năm khẩu pháo 5 in (127 mm) và mười ống phóng ngư lôi trên trục giữa ở sàn tàu, cho phép chúng đáp trả mọi thiết kế nước ngoài ở điều kiện ngang bằng. So sánh với những thiết kế trước đây, lớp Fletcher lớn hơn, cho phép chấp nhận việc bổ sung sau này hai khẩu đội Bofors 40 mm phòng không bốn nòng cũng như sáu khẩu đội Oerlikon 20 mm nòng đôi. Việc bổ sung cho dàn hỏa lực phòng không này đòi hỏi việc loại bỏ dàn ống phóng ngư lôi năm nòng phía trước, một thay đổi được thực hiện trong chương trình đối phó với máy bay kamikaze vào ngày 4 tháng 4 năm 1945.[1]

Phục vụ Hải quân Trung Hoa Dân Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Con tàu được chuyển cho chính phủ Trung Hoa dân quốc (Đài Loan) mượn vào ngày 10 tháng 6 năm 1968, và phục vụ cùng Hải quân Trung Hoa dân quốc như là chiếc ROCN Kun Yang (DD-19). Nó được hoàn trả cho Hoa Kỳ trên danh nghĩa vào năm 1974, rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 25 tháng 1 năm 1974, rồi được bán lại cho Đài Loan. Kun Yang ngừng hoạt động vào ngày 16 tháng 10 năm 1999.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Friedman 2004, tr. 118

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]