ROKS Chung Mu (DD-911)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
ROKS Chung Mu (DD-911) vào năm 1982
ROKS Chung Mu (DD-911) vào năm 1982
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Erben (DD-631)
Đặt tên theo: Chuẩn đô đốc Henry Erben
Hãng đóng tàu: Bath Iron Works
Đặt lườn: 28 tháng 10 năm 1942
Hạ thủy: 21 tháng 3 năm 1943
Đỡ đầu bởi: bà C. B. G. Gaillard
Nhập biên chế: 28 tháng 5 năm 1943
Tái biên chế: 19 tháng 5 năm 1951
Xuất biên chế: 31 tháng 5 năm 1946
27 tháng 6 năm 1958
Xóa đăng bạ: 2 tháng 6 năm 1975
Danh hiệu và
phong tặng:
6 × Ngôi sao Chiến trận (Thế Chiến II);
4 × Ngôi sao Chiến trận (Chiến tranh Triều Tiên)
Số phận: Được chuyển cho Hàn Quốc, 16 tháng 5 năm 1963
Phục vụ (Hàn Quốc)
Tên gọi: ROKS Chung Mu (DD-91)
Trưng dụng: 16 tháng 5 năm 1963
Số phận: Tàu huấn luyện từ năm 1983, có thể đã tháo dỡ,
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fletcher
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 2.100 tấn Anh (2.100 t) (tiêu chuẩn)
2.924 tấn Anh (2.971 t) (đầy tải)
Độ dài: 376 ft 5 in (114,73 m) (chung)
Sườn ngang: 39 ft 08 in (12,09 m) (chung)
Mớn nước: 13 ft 9 in (4,19 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
2 × trục
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 36 kn (41 mph; 67 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
329 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

5 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (5×1);
4 × pháo phòng không Bofors 40 mm;
4 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);

6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu

ROKS Chung Mu (DD-911) là một tàu khu trục lớp Fletcher thuộc biên chế Hải quân Hàn Quốc. Tên gọi được đặt theo Chungmu, tên gọi trước đây của Tongyeong là một thành phố ven biển ở tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc. Thành phố Chungmu và huyện Tongyeong đã được hợp nhất vào năm 1995, tạo ra thành phố Tongyeong ngày nay. Nó bao gồm bán đảo Goseong, đảo Hansan đảo, đảo Mireuk và đảo nhỏ khác.

Tàu nguyên là USS Erben (DD-631) thuộc biên chế Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc Henry Erben (1832–1909), người tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ và cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, được cho xuất biên chế năm 1946, nhưng được tái biên chế trở lại năm 1951 để hoạt động trong Chiến tranh Triều Tiên, và tiếp tục phục vụ cho đến năm 1958. Con tàu được chuyển cho Hàn Quốc và hoạt động như là chiếc ROKS Chung Mu (DD-91) cho đến khi bị tháo dỡ. Erben được tặng thưởng sáu Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm bốn Ngôi sao Chiến trận khác khi hoạt động tại Triều Tiên.

Erben được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Bath Iron WorksBath Maine vào ngày 28 tháng 10 năm 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 3 năm 1943; được đỡ đầu bởi bà C. B. G. Gaillard, con gái đô đốc Erben; và nhập biên chế vào ngày 28 tháng 5 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân J. H. Nevins, Jr.

Phục vụ Hải quân Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc tàu khu trục được chuyển cho chính phủ Nam Triều Tiên vào ngày 16 tháng 5 năm 1963, nơi nó được đổi tên thành ROKS Chung Mu (DD-91). Đến năm 1979, Hải quân Cộng hòa Hàn quốc đổi ký hiệu lườn thành 911, và từ năm 1983 nó phục vụ như một tàu huấn luyện cố định. Người ta tin rằng hiện nó đã bị tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]