Trà Cú, Trà Vinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trà Cú là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Trà Vinh. Huyện có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh, chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện, chủ yếu sinh sống ở các xã vùng sâu, vùng xa. Trung tâm của huyện là thị trấn Trà Cú.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trà Cú nằm cách Thành phố Trà Vinh 33 km đường lộ trên tuyến quốc lộ 53 và 54. Phía Đông tiếp giáp huyện Cầu Ngang, phía Nam giáp huyện Duyên Hải, phía Bắc giáp huyện Tiểu CầnChâu Thành, phía Tây giáp sông Hậu.Đây là tuyến vận tải hàng hóa quốc tế qua cửa biển Định An.

Phía Đông giáp huyện Cầu Ngang, Duyên Hải.

Phía Tây giáp sông Hậu (tỉnh Sóc Trăng).

Phía Nam giáp huyện Duyên Hải.

Phía Bắc giáp huyện Châu Thành, Tiểu Cần.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trà Cú từ năm 2015 có 17 đơn vị hành chính, gồm 2 thị trấn: Trà Cú, Định An và 15 xã: An Quảng Hữu, Đại An, Định An, Hàm Giang, Hàm Tân, Kim Sơn, Long Hiệp, Lưu Nghiệp Anh, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên, Phước Hưng, Tân Hiệp, Tân Sơn, Tập Sơn, Thanh Sơn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trà Cú là quận của tỉnh Trà Vinh từ ngày 07 tháng 03 năm 1950, gồm có 3 tổng: Ngãi Hòa Thượng với 4 làng, Ngãi Hòa Trung với 5 làng, Thành Hóa Thượng với 4 làng; quận lỵ đặt tại làng Trà Cú. Ngày 21 tháng 07 năm 1956, tách xã Long Vĩnh của tổng Thành Hóa Thượng nhập vào quận Long Toàn cùng tỉnh.

Ngày 31 tháng 01 năm 1957, quận Trà Cú thuộc tỉnh Vĩnh Bình, gồm 3 tổng như cũ với 9 xã; quận lỵ đặt tại xã Ngãi Xuyên. Sau năm 1965, các tổng mặc nhiên bị giải thể. Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, Trà Cú là huyện của tỉnh Cửu Long, gồm 9 xã: An Quảng Hữu, Đại An, Đôn Châu, Hàm Giang, Long Hiệp, Lưu Nghiệp Anh, Ngãi Xuyên, Phước Hưng, Tập Sơn.

Ngày 11 tháng 03 năm 1977, huyện nhận thêm các xã Tập Ngãi, Hùng Hòa, Tân Hòa từ huyện Tiểu Cần vừa giải thể. Ngày 15 tháng 09 năm 1981, huyện lập mới các xã Đôn Xuân, Tân Hiệp, Ngọc Biên, Thanh Sơn, Ngãi Hùng. Ngày 29 tháng 09 năm 1981, huyện giao 4 xã Tập Ngãi, Hùng Hòa, Tân Hòa, Ngãi Hùng về huyện Tiểu Cần vừa được tái lập.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, tỉnh Cửu Long tách thành tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, huyện Trà Cú thuộc tỉnh Trà Vinh. Ngày 29 tháng 08 năm 1994, thị trấn Trà Cú được thành lập trên cơ sở tách 1 phần dân số và diện tích của xã Thanh Sơn và xã Ngãi Xuyên.

Ngày 02 tháng 03 năm 1998, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 13/1998/NĐ-CP, về việc thành lập một số xã thuộc các huyện Châu Thành, Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Cầu KèCàng Long, tỉnh Trà Vinh. Theo đó, thành lập xã Định An thuộc huyện Trà Cú trên cơ sở 1.696,51 ha diện tích tự nhiên và 6.848 nhân khẩu của xã Đại An.

Ngày 10 tháng 12 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 157/2003/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã thuộc các huyện Châu Thành, Cầu Ngang, Càng Long và Trà Cú tỉnh Trà Vinh. Theo đó, thành lập xã Kim Sơn thuộc huyện Trà Cú trên cơ sở 2.228,72 ha diện tích tự nhiên và 7.874 nhân khẩu của xã Thanh Sơn; thành lập xã Tân Sơn thuộc huyện Trà Cú trên cơ sở 1.521,145 ha diện tích tự nhiên và 6.435 nhân khẩu của xã Tập Sơn.

Ngày 01 tháng 08 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 86/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thị trấn thuộc huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Theo đó, thành lập xã Hàm Tân thuộc huyện Trà Cú trên cơ sở điều chỉnh 2.098 ha diện tích tự nhiên và 7.759 nhân khẩu của xã Hàm Giang; thành lập thị trấn Định An thuộc huyện Trà Cú trên cơ sở điều chỉnh 403,86 ha diện tích tự nhiên và 5.444 nhân khẩu của xã Định An. Sau khi điều chỉnh, huyện Trà Cú có 19 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: An Quãng Hữu, Lưu Nghiệp Anh, Đại An, Đôn Châu, Đôn Xuân, Long Hiệp, Tân Hiệp, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên, Thanh Sơn, Kim Sơn, Tập Sơn, Tân Sơn, Phước Hưng, Định An, Hàm Giang, Hàm Tân và thị trấn Trà Cú, thị trấn Định An.

Từ ngày 11 tháng 05 năm 2015, hai xã Đôn ChâuĐôn Xuân chuyển sang trực thuộc huyện Duyên Hải.

Như vậy, huyện Trà Cú có 17 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn và 15 xã như hiện nay.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trà Cú mang đặc điểm địa hình rõ nét của vùng đồng bằng ven biển, địa hình huyện có nhiều giồng cát hình cánh cung song song với bờ biển, có cao trình cao trên 2 m. Cao trình bình quân phổ biến từ 0,4 m đến 0,8 m so với mặt nước biển, cao trình tháp phân bố rải rác ở các xã Đại An, Đôn Châu, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên.

Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển(có hai mùa mưa nắng rõ rệt trong năm) rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; nhiệt độ trung bình từ 24,9 – 28,50C; tổng lượng mưa bình quân trong năm đo được khoảng 1.900 mm.

Sông Hậu qua huyện là 1 trong 2 nhánh chính của đoạn cuối sông Hậu phân cách bởi cù lao Dung, nhánh qua huyện có mặt rộng 1,5 – 2,5 km, sâu trên 10m. Các sông rạch chính: Rạch Trà Cú – Vàm Buôn dài khoảng 18 km, bắt nguồn từ sông Hậu nối thông với Rạch Trà Mềm qua cống Tập Sơn; Rạch Tổng Long dài khoảng 17 km bắt nguồn từ sông Hậu thông với kênh 3/2. Ngoài ra còn nhiều kênh rạch khác như: Kênh 3/2, kênh An Quảng Hữu, kênh Nguyễn Văn Pho, rạch Vàm Ray, rạch Bắc Trang, rạch Trà Mềm.

Chế độ thủy triều: chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều biển Đông, trong ngày nước lên xuống hai lần, mỗi tháng có hai lần triều cường sau ngày mồng 01 và ngày 15 âm lịch(từ 2 – 3 ngày), biên độ triều hằng ngày rất lớn, nhất là khu vực gần cửa sông. Vùng đất phía Tây Quốc lộ 53 của huyện bị xâm nhập mặn vào mùa khô, chủ yếu từ sông Hậu như rạch Trà Cú, Tổng Long, Vàm Ray.

Với địa hình cập sông Hậu với chiều dài trên 20 km có tiếp giáp cửa biển Định An, thuận tiện cho phát triển nghề đánh bắt thủy sản và giao thông đường thủy.

Đất nông nghiệp; 31.261,7 ha, chiếm 84,51% diện tích tự nhiên gồm: đất trồng cây hàng năm 23.986,81 ha, chiếm 76,73% diện tích đất nông nghiệp(trong đó đất trồng lúa); đất trồng cây lâu năm 4.919,77 ha, chiếm 15,74% diện tích đất nông nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản 2.355,12 ha, chiếm 7,53% diện tích đất nông nghiệp. Đất phi nông nghiệp 5.708,85 ha; đất chưa sử dụng 21,9 ha; sông rạch 3.043,24 ha.

Tài nguyên khoáng sản: theo khảo sát lập bản đồ địa chất khoáng sản đồng bằng Nam Bộ huyện có mỏ đất sét ở xã Phước Hưng với trữ lượng tương đối lớn, dân đã khai thác để làm gạch, nhưng gạch thường bị vênh và trọng lượng viên gạch nặng. Nhìn chung, sét có thành phần hóa học đạt so với yêu cầu, nhưng lượng cát ít, trong sét có nhiều Hydro-mica nên gạch dễ bị vênh khi nung.

Huyện Trà Cú có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong phú, trong đó nguồn nước mặt chủ yếu từ sông Hậu, rạch Trà Cú – Vàm Buôn, rạch Tổng Long… phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân.

Dân số (năm 2013)

Trà Cú là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Trà Vinh. Huyện có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh khoảng 111.607 người, chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện.

Dân số của huyện là khoảng 180.084 người, có mật độ dân số 487 người/km2 với 44.852 hộ. Người dân chủ yếu sống ở nông thôn với dân số khoảng 168,283 người chiếm tỷ lệ gần 93% dân số của huyện.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân chủ yếu làm nghề trồng lúa, trồng mía, đánh cá, chăn nuôi.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích, thắng cảnh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]