Yuju (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Choi.
Yuju
180512 드림콘서트 (1).jpg
Yuju vào năm 2018
Thông tin nghệ sĩ
Tên bản ngữ최유나
Tên khai sinhChoi Yu-na
Sinh4 tháng 10, 1997 (22 tuổi)
Deogyang-gu, Goyang-si, Gyeonggi-do, Hàn Quốc[1]
Thể loại
Nghề nghiệpCa sĩ
Nhạc cụ
Năm hoạt động2015–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Tên tiếng Hàn
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữChoe Yu-na
McCune–ReischauerCh'oe Yuna
Hán-ViệtTrịnh Nghệ Lân
Tên nghệ danh
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữYuju
McCune–ReischauerYu-chu

Choi Yu-na (Hangul: 최유나; sinh ngày 4 tháng 10 năm 1997), thường được biết đến với nghệ danh Yuju (Hangul: 유주; có nghĩa là "không trung" trong tiếng Hàn), là một nữ ca sĩ thần tượng người Hàn Quốc, thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc GFriend do công ty giải trí Source Music thành lập và quản lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yuju sinh ngày 4 tháng 10 năm 1997 tại Ilsan, Goyang, Gyeonggi, Hàn Quốc, là con út trong một gia đình có 2 chị em.

Cô theo học Trường Trung học Biểu diễn Nghệ thuật Seoul, và đã tốt nghiệp vào tháng 2 năm 2016 cùng với thành viên Eunha. Hiện cô là sinh viên trường Đại học nữ Sungshin.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Yuju đã tham gia vào mùa đầu tiên của chương trình K-pop Star vào năm 2011, và thể hiện ca khúc "Because It's You" của Gummy. Kết quả đã bị loại ở vòng đầu tiên.[2]

Cô đã tham gia Gyeonggi General Arts Festival vào năm 2012, và giành được giải thưởng xuất sắc nhất. Năm 2013, cô tham gia cuộc thi quốc gia do DBS National Arts Festival tổ chức, thể hiện ca khúc "Ziugae" của Ali, và đã giành được huy chương vàng.

Trước khi ra mắt với tư cách là thành viên của GFriend, Yuju từng là thực tập sinh tại Cube Entertainment vào năm 2011 và LOEN Entertainment vào năm 2012 trước khi chuyển sang Source Music.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: GFriend

Yuju ra mắt với GFriend tại Hàn Quốc vào ngày 15 tháng 1 năm 2015 với mini album đầu tay mang tên Season of Glass, cùng với ca khúc chủ đề "Glass Bead". Đĩa đơn thứ hai của nhóm, mang tên "Me Gustas Tu", được phát hành vài tháng sau đó. Trong thời gian quảng bá bài hát, nhóm đã thu hút sự chú ý của quốc tế sau khi đoạn video do một người hâm mộ ghi lại hình ảnh các thành viên của GFriend dù liên tục trượt ngã trên một sân khấu trơn trượt do trời mưa nhưng nhóm vẫn không từ bỏ và tiếp tục đứng dậy hoàn thành buổi biểu diễn "Me Gustas Tu" được đăng tải lên YouTube và lan truyền vào tháng 9 năm 2015. Nhóm được khen ngợi vì sự chuyên nghiệp, đặc biệt là Yuju, người đã ngã tổng cộng 8 lần trong khi biểu diễn.[3][4][5][6] Bài hát tiếp theo của nhóm, "Rough", đã chiến thắng tổng cộng 15 lần trên các chương trình chương trình âm nhạc.

Yuju đã thể hiện ca khúc "Spring Is Gone by Chance" cho bộ phim truyền hình Hàn Quốc, The Girl Who Sees Smells cùng với Loco. Bài hát đã giành giải "OST Chart First Place" liên tiếp trên Music Bank và "Nhạc phim xuất sắc nhất" tại Melon Music Awards năm 2015.[7] Một phiên bản acoustic của bài hát cũng đã được phát hành.

Yuju đã thu âm "Billy & The Brave Guys", cho nhạc phim của bộ phim hoạt hình Chicken Hero, được phát hành vào ngày 18 tháng 2 năm 2016.[8] Vào tháng 3 năm 2016, cô đã hợp tác với Sunyoul của UP10TION cho một bài hát có tên "Cherish".[9]

Vào tháng 10 năm 2017, cô đã hợp tác với Jihoo của IZ cho một bài hát có tên "Heart Signal".[10]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Tên bài hát Năm Vị trí cao nhất Doanh thu

(lượt tải xuống)

Album
Hàn
[11]
"Spring Is Gone by Chance" (우연히 봄)
(với Loco)
2015 5 The Girl Who Sees Smells OST Part 2
"Spring Is Gone by Chance" (우연히 봄) (Acoustic Ver.)
(với Loco)
"I Love You" (난 널 사랑해) Không có King of Mask Singer Vol. 16
"Without a Heart" (심장이 없어)
(với The Name)
Không có King of Mask Singer Vol. 17
"Cherish" (보일 듯 말 듯)
(với Sunyoul)
2016 31 Đĩa đơn không nằm trong album
"Heart Signal" (하트시그널)
(với Jihoo)
2017 Không có Đĩa đơn không nằm trong album
"First Love" (첫사랑)
(với Jung Key)
38 Cherish
"Love Rain" (với Suran) 2018 Không có Đĩa đơn không nằm trong album
"Just This Song" (이 노래만) Không có Let's Eat 3 OST Part 3
"—" biểu thị cho các bản phát hành không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành trong khu vực đó.

Giọng hát[sửa | sửa mã nguồn]

Yuju là một trong những giọng ca nổi bật nhất của thế hệ mới, với chất giọng nội lực khỏe khoắn, đôi khi mỏng nhẹ rất nữ tính, cô đã gây ấn tượng với khán giả bằng chất giọng ấy của mình. Ngoài ra cô cũng có nền tảng thanh nhạc vững chắc để có thể xử lí bài hát thật tốt và bảo vệ giọng hát bản thân dù vẫn chưa quá xuất sắc.

  • Loại giọng: Nữ cao
  • Quãng giọng: D3 - G#6 (3 quãng tám và 3 nốt)
  • Supported range: G#3/A3 - C5/C#5 - F5/F#5

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Kênh Ghi chú
2011 K-pop Star 1 SBS Thí sinh
2015 King of Mask Singer MBC "Christmas in July"
Radio Star MBC Khách mời
2016 InstaWars MBC Khách mời
Duty Gold Medal KBS2 Khách mời
Same Bed, Different Dreams SBS Khách mời (với Yerin)
Europe, that GFriend Loves skyTravel Thành viên cố định
2017 1 vs. 100 KBS2 Khách mời
Battle Trip KBS2 Khách mời, (tập 62), với SinB, Umji
Video Star MBC Every1 Khách mời, (tập 63), với Yerin
Immortal Songs: Singing the Legend KBS2 Khách mời
The Return of Superman KBS2 Khách mời đặc biệt
The Friends in Adriatic Sea K STAR Thành viên cố định

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên công ty Tên sản phẩm Thể loại Ghi chú
2015 BoxooEnt Billy & The Brave Guys: Chicken Hero Phim điện ảnh
2016 YD Online Icarus Trò chơi di động với Sowon, Yerin, Eunha
2017 Nashe Kino Fantastic Journey to OZ Phim điện ảnh với SinB

Người mẫu tạp chí[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tạp chí Số phát hành Ghi chú
2016 Cosmopolitan Korea Tháng 12 với Sowon, Yerin, Eunha, SinB

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả
2015 Melon Music Awards Nhạc phim xuất sắc nhất "Spring Is Gone by Chance" Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “여.친.소① 여자친구를 소개합니다” (bằng tiếng Triều Tiên). tenasia.hankyung.com. Ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016. 
  2. ^ “Tham dự Kpop Star 1”. 
  3. ^ “This Video of a K-Pop Singer Falling 8 Times in 1 Song Will Inspire You to Keep Going No Matter What”. Time. 7 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ “Domino dancing: K-pop group Gfriend come a cropper on slippery stage (VIDEO)”. Malaymail Online. 7 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015. 
  5. ^ “K-pop: Yuju et SinB du groupe GFriend tombent sur scène” (bằng tiếng French). TVQC. 7 tháng 9 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  6. ^ “여자친구, '오늘부터 우리는' 음원 역주행…꽈당 투혼 덕분?” (bằng tiếng Korean). 8 tháng 9 năm 2015. 
  7. ^ “빅뱅, '2015 멜론 뮤직 어워드' 주인공” (bằng tiếng Korean). newsis.com. 8 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017. 
  8. ^ k-popscene.com Team (3 tháng 2 năm 2016). “Yuju – Billy & The Brave Guys (Chicken Hero OST)”. kpopscene.com. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2016. 
  9. ^ “여자친구 유주X업텐션 선율, '보일 듯 말듯' 라이브 영상 공개” (bằng tiếng Korean). asiatoday.co.kr. 12 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017. 
  10. ^ “여자친구 유주X아이즈 지후, '하트시그널' 오늘(27일) 공개” (bằng tiếng Korean). EDaily. 27 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2017. 
  11. ^ Gaon Digital Chart
  12. ^ "background: #ececec; color: grey; vertical-align: middle; text-align: center; " class="table-na" | Không córticle/m.view.gaon?idx=15434 “Gaon Observation Note”. Gaon Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2019. 
  13. ^ Cumulative Sales for "Spring Is Gone by Chance (Acoustic Ver.)":
  14. ^ Cumulative Sales for "Cherish":
  15. ^ Cumulative Sales for "First Love":

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]