Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đức
Huy hiệu
Hiệp hội Liên đoàn bóng đá Đức
Huấn luyện viên Flag of Germany.svg Silvia Neid
Đội trưởng Birgit Prinz
Thi đấu nhiều nhất Birgit Prinz (170)
Vua phá lưới Birgit Prinz (114)
Sân nhà Nhiều sân khác nhau
Mã FIFA GER
Xếp hạng FIFA 2
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
Flag of Germany.svg Đức 5 - 1 Thụy Sĩ Flag of Switzerland.svg
Trận thắng đậm nhất
Flag of Germany.svg Đức 13:0 Bồ Đào Nha Flag of Portugal.svg
Trận thua đậm nhất
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ 6:0 Đức Flag of Germany.svg

Giải Thế giới
Số lần tham dự 5 (Lần đầu vào 1991)
Kết quả tốt nhất Vô địch 2003, 2007
Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu
Số lần tham dự 8 (Lần đầu vào 1987)
Kết quả tốt nhất Vô địch 1989, 1991, 1995,
1997, 2001, 2005, 2009
Thành tích Huy chương Olympic
Bóng đá nữ
Đồng Sydney 2000 Đồng đội
Đồng Athens 2004 Đồng đội
Đồng Bắc Kinh 2008 Đồng đội

Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức bao gồm các nữ cầu thủ bóng đá do huấn luyện viên quốc gia lựa chọn. Đội đại diện cho Liên đoàn bóng đá Đức trên bình diện quốc tế trong các trận thi đấu giao hữu quốc tế cũng như trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu của UEFAGiải vô địch bóng đá nữ thế giới do FIFA tổ chức.

Đội bóng đá nữ quốc gia Đức là một trong các đội tuyển bóng đá nữ quốc gia có nhiều thành tích nhất trên thế giới. Đội đã 2 lần đoạt Giải vô địch bóng đá nữ thế giới và 7 lần đoạt Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Đội đã liên tục đoạt giải vô địch bóng đá nữ châu Âu trong 5 lần tổ chức gần đây nhất. Nước Đức vì thế là quốc gia đầu tiên và cho đến nay là quốc gia duy nhất đồng thời đoạt giải vô địch bóng đá thế giới và châu Âu ở cả nam lẫn nữ. Birgit Prinz là nữ cầu thủ giữ kỷ lục thi đấu trong đội tuyển quốc gia và đồng thời cũng là vua phá lưới của năm 2003 trong Giải vô địch bóng đá nữ thế giới. Nữ huấn luyện viên trưởng từ năm 2005Silvia Neid, kế nhiệm Tina Theune-Mayer là người đã 9 năm liền giữ chức vụ này.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đại hội năm 1955 Liên đoàn bóng đá Đức (DFB) đã quyết định cấm thi đấu bóng đá nữ với lý do "...hình thức thi đấu thể thao này về bản chất không phù hợp cho phụ nữ", "...có hại cho tinh thần lẫn thể xác", và "...việc phơi bày cơ thể sẽ làm tổn thương đến đức hạnh...". Mãi đến đại hội liên đoàn vào ngày 30 tháng 10 năm 1970 tại Lübeck-Travemünde việc cấm đoán này mới được bãi bỏ, ngoài ra, đại hội cũng quyết định khuyến khích bóng đá nữ. Trong khi các liên đoàn bóng đá quốc gia khác đã thành lập đội tuyển nữ quốc gia trong những năm của thập niên 1970, liên đoàn bóng đá Đức cả một thời gian dài đã không hề đả động đến việc này. Năm 1980, khi tháp tùng đội tuyển nam thiếu niên B của Eintracht Frankfurt thi đấu tại Đài Loan, thành viên của giới lãnh đạo DFB là Horst R. Schmidt đã nhận được giấy mời tham dự giải vô địch thế giới bóng đá nữ không chính thức. Schmidt lặng lẽ nhận giấy mời mà không hề nói rằng vào thời điểm đấy Liên đoàn bóng đá Đức vẫn chưa có một đội tuyển bóng đá nữ quốc gia. Để không mất mặt, Liên đoàn bóng đá Đức đã gửi đội bóng đá nữ đương kim vô địch quốc gia vào thời điểm đấy là SSG 09 Bergisch Gladbach sang châu Á tham dự, là đội đã đoạt chức vô địch giải này. Sau đấy DFB đã thành lập đội bóng đá nữ quốc gia vào năm 1982. Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Đức Hermann Neuberger giao nhiệm vụ xây dựng đội tuyển cho Gero Bisanz, vào thời điểm đấy là người đào tạo huấn luyện viên tại trường Đại học Thể thao Köln.

1982-1987: Những năm đầu khó khăn[sửa | sửa mã nguồn]

Trận thi đấu giao hữu đầu tiên được tổ chức vào ngày 10 tháng 11 năm 1982, đối thủ theo truyền thống là Thụy Sĩ, cũng là đối thủ của đội bóng đá nam trong trận thi đấu giao hữu đầu tiên. Đội tuyển bóng đá nữ Đức bao gồm chủ yếu là các nữ cầu thủ của SSG 09 Bergisch Gladbach. Bàn thắng đầu tiên do Doris Kresimon ghi vào phút thứ 25. Nữ cầu thủ Silvia Neid, lúc đấy mới 18 tuổi, được thay vào trong hiệp hai và đã ghi thêm 2 bàn thắng, góp phần mang lại chiến thắng 5:1 cho đội nữ Đức. Neid trở thành huấn luyện viên đội tuyển từ năm 1996 và từ 2005 là huấn luyện viên trưởng của Đội bóng đá nữ quốc gia Đức.

Nước Đức không tham dự Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu đầu tiên. Bisanz mong muốn rút ngắn khoảng cách so với các đội bóng Bắc Âu và Ý bằng các luyện tập cơ bản và đào tạo mầm non. Từ năm 1985 ông đã trẻ hóa đội tuyển, việc mà ban đầu đã làm cho đội thất bại tại vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1987.

Đội tuyển quốc gia đầu tiên:

Marion Isbert (36' Claudia Reichler); Gaby Dlugi-Winterberg (52' Christel Klinzmann); Petra Landers; Monika Degwitz; Brigitte Klinz; Rike Koekoek (41' Silvia Neid); Anne Trabant; Bettina Krug (47' Birgit Offermann); Birgit Bormann; Doris Kresimon; Ingrid Gebauer (47' Petra Bartelmann)
Bàn thắng: Neid (2), Bormann, Gebauer, Kresimon[1]

1988-1993: Các thành tích đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1989 là năm mang lại các thành quả đầu tiên cho đội tuyển. Đội lần đầu tiên đã vượt qua được vòng loại vào thi đấu Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Giải năm 1989 được tổ chức ngay tại Đức. Trận bán kết gặp đội tuyển Ý là trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội bóng đá nữ quốc gia được truyền hình trực tiếp. Nữ anh hùng của trận này là thủ môn Marion Isbert, phá được 3 quả luân lưu 11 m và tự sút thành công một quả 11 m. Trận chung kết Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989 giữa đội bóng nữ Đức và Na Uy diễn ra vào ngày 2 tháng 7 năm 1989 tại Osnabrück trước 23.000 khán giả, cho đến nay vẫn là kỷ lục về số lượng khán giả cho một trận thi đấu trên sân nhà của Đội bóng đá nữ quốc gia Đức. Đội bóng của DFB đã chiến thắng với tỷ số 4:1, đánh dấu bước đột phá cho nền bóng đá nữ của Đức. Silvia Neid đóng vai trò đạo diễn khu trung tuyến, ngôi sao Doris Fitschen nổi bật ở hàng hậu vệ và Heidi Mohr thuộc vào trong số những tiền đạo xuất sắc nhất trên thế giới tại thời điểm đấy.

Đội hình vô địch châu Âu 1989:

Marion IsbertFrauke KuhlmannJutta NardenbachSissy RaithAndrea Haberlaß (Roswitha Bindl) – Doris Fitschen (Angelika Fehrmann) – Silvia NeidPetra DammMartina VossHeidi MohrUrsula Lohn
Bàn thắng: Lohn (2), Fehrmann, Mohr [2]

Đội bóng đã bảo vệ thành công danh hiệu này 2 năm sau đấy. Đội đã chiến thắng tất cả 11 trận trong vòng loại. Lại gặp Ý trong trận bán kết, đội bóng đá nữ lần này đã chiến thắng rõ rệt với tỷ số 3:0 để vào chung kết gặp Na Uy tại thành phố Đan Mạch Allborg. Hai bàn thắng của Heidi Mohr và Silvia Neid trong hiệp phụ đầu tiên đã mang về chiến thắng cho đội bóng Đức với tỉ số chung cuộc là 3:1.

Đội hình vô địch châu Âu 1991:

Marion IsbertDoris FitschenJutta NardenbachFrauke KuhlmannBritta Unsleber (Gudrun Gottschlich) – Silvia NeidPetra DammSissy Raith (Andrea Hengst) – Martina Voss (Katja Bornschein) – Heidi MohrBettina Wiegmann
Bàn thắng: Mohr (2), Neid[3]

Tháng 11 cùng năm Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức đã đến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa tham dự Giải vô địch bóng đá nữ thế giới được tổ chức lần đầu tiên. Tuy chiến thắng các đội bóng nữ của Ý, Đài Loan, Nigeria, Đan Mạch nhưng đội bóng đã thất bại trong trận gặp đội bóng USA cũng như trong trận tranh hạng ba với đội bóng Thụy Điển.

Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1993 là mang lại nhiều thất vọng. Đội đã thất bại trước đội bóng Ý trong trận bán kết ở loạt đá luân lưu và cũng thất bại trong trận tranh hạng ba khi gặp đội Đan Mạch. Bisanz đã đưa Steffi Jones, Maren Meinert, Birgit PrinzSilke Rottenberg là các nữ cầu thủ trẻ có nhiều tài năng vào đội hình, tạo nền tảng cho các thành công sau này.

1994-2001: Chiến thắng liên tục tại châu Âu, thất vọng trong Giải vô địch bóng đá thế giới và Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1995 đội lại vào vòng chung kết của Giải bóng đá vô địch châu Âu, thắng trong tất cả các trận thi đấu ở vòng loại và mãi cho đến trận bán kết gặp đội tuyển Anh đội vẫn chưa thua một bàn. Trận chung kết diễn ra vào ngày 26 tháng 3 năm 1995 trên Sân vận động Fritz Walter tại thành phố Kaiserslautern. Đội tuyển Đức đã chiến thắng đội tuyển Thụy Điển với kết quả sít sao 3:2.

Đội hình vô địch châu Âu 1995:

Manuela GollerUrsula LohnAnouschka Bernhard - Birgitt AustermühlBettina WiegmannMaren MeinertSilvia NeidMartina Voss (Pia Wunderlich) – Dagmar PohlmannHeidi MohrPatricia Grigoli-Brocker (Birgit Prinz)
Bàn thắng: Meinert, Prinz, Wiegmann[4]

Giải vô địch thế giới lần thứ hai được tổ chức trong mùa hè 1995 tại Thụy Điển. Tuy vào được vòng chung kết nhưng ước mơ vô địch thế giới đã không thành, đội tuyển Na Uy đã thắng trận chung kết với tỉ số 2:0.

Một năm sau đấy, tại Atlanta, bóng đá nữ lần đầu tiên được tổ chức thi đấu trong Thế vận hội. Bettina Wiegmann đã ghi bàn thắng Thế vận hội đầu tiên trong trận khai mạc gặp Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Nhật. Thế nhưng đội tuyển Đức không qua được vòng đầu. Gero Bisanz xin từ chức sau giải này. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đội tuyển bóng đá nữ của Đức đã trở thành một trong những đội nữ mạnh nhất. Tina Theune-Meyer, từ 1983 là phụ tá huấn luyện viên, trở thành người kế nhiệm. Theune-Meyer trẻ hóa đội ngũ, Silvia Neid chấm dứt sự nghiệp đá bóng, các cầu thủ trẻ như Ariane Hingst, Kerstin Stegemann hay Sandra Smisek bắt đầu nổi tiếng.

Cuộc thử thách đầu tiên cho đội bóng là Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1977 tại Na Uy. Nhờ vào chiến thắng 2:0 trong trận gặp đội nữ Đan Mạch, đội đã lọt vào vào bán kết và tại đây, đội đã thắng dội tuyển bóng đá nữ quốc gia Thụy Điển với tỉ số 1:0. Trong trận chung kết, đội bóng của huấn luyện viên Theune-Meyer lại gặp đội bóng nữ Ý. Nhờ vào các bàn thắng của Sandra Minnert và Birgit Prinz, đội tuyển nữ của Đức đã đoạt giải vô địch châu Âu lần thứ tư.

Đội hình vô địch châu Âu 1997:

Silke RottenbergSteffi JonesKerstin StegemannDoris FitschenSandra MinnertAriane HingstMaren Meinert (Claudia Klein) – Bettina WiegmannPia WunderlichBirgit Prinz (Sandra Smisek) – Monika Meyer (Claudia Müller)
Bàn thắng: Minnert, Prinz [5]

Đội tuyển bóng đá nữ của Đức chỉ qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới lần thứ ba tại Hoa Kỳ một cách rất chật vật. Ngay trận đầu tiên đội đã hòa đội tuyển Ý một cách không may mắn. Sau đấy là chiến thắng đội tuyển Mexico với tỉ số 6:0. Inka Grings đã ghi được 3 bàn thắng, kỷ lục thi đấu giải vô địch thế giới cho đội Đức. Trong trận thi đấu cuối cùng của bảng, đội đã hòa Brasil với tỉ số 3:3. Bàn gỡ hòa của Brasil được ghi vào phút cuối cùng của trận đấu, đội tuyển Đức vì thế đánh mất vị trí đầu bảng, phải gặp đội chủ nhà trong trận tứ kết. Mặt dù dẫn tỉ số trước 2 lần nhưng đội đã đánh mất tinh thần và cuối cùng đã thua với tỉ số 2:3.

Liên đoàn bóng đá Đức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập trong năm kế tiếp sau đó. Để chuẩn bị cho Thế vận hội mùa hè 2000 Liên đoàn đã tổ chức cuộc thi đấu với các đội tuyển quốc gia của Hoa Kỳ, Na Uy và Trung Quốc. Đội tuyển Đức đã về chót sau khi thua cả ba trận. Tuy vậy, đội đã thi đấu tốt hơn trong Thế vận hội mùa hè. Đội bị loại trong trận bán kết do bàn đá vào lưới nhà của Tina Wunderlich. Đội đoạt huy chương đồng sau khi chiến thắng đội Brasil với tỉ số 2:0 trong trận tranh hạng ba. Đây là huy chương Thế vận hội đầu tiên cho Liên đoàn bóng đá Đức.

Năm 2001 đội bóng nữ Đức tiếp tục vượt qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá châu Âu. Sau chiến thắng 1:0 trong trận bán kết gặp Na Uy, đội bóng đá Đức lại gặp đội tuyển Thụy Điển trong trận chung kết trên Sân vận động Donau tại Ulm. Claudia Müller đã ghi bàn thắng vàng ở phút thứ 98, mang lại chiến thắng lần thứ 5 cho đội tuyển.

Đội hình vô địch châu Âu 2001:

Silke RottenbergKerstin StegemannSteffi JonesDoris FitschenAriane HingstPia WunderlichBettina WiegmannRenate LingorBirgit PrinzMaren MeinertSandra Smisek (Claudia Müller)
Bàn thắng: Müller [6]

2002-2005: Vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển của Theune Meyer vượt qua được vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới năm 2003 được tổ chức ở Hoa Kỳ mà không để mất một điểm nào. Sau vòng thi đấu bảng với các chiến thắng rõ rệt, đội tuyển Đức đã chiến thắng đội tuyển Nga trong trận tứ kết với tỉ số 7:1. Gặp đội chủ nhà trong trận bán kết, đội tuyển Đức đã chiến thắng với tỉ số 3:0 nhờ vào các bàn thắng của Maren Meinert và Birgit Prinz trong những phút thi đấu cuối cùng. Trận này được nhiều chuyên gia cho là trận thi đấu bóng đá nữ hay nhất từ trước đến nay.[7]. Đội tuyển gặp Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Thụy Điển trong trận chung kết. Thụy Điển mở tỉ số trước ở phút thứ 41 do lỗi của hàng hậu vệ Đức. Ngay sau khi bắt đầu hiệp 2, Maren Meinert đã gỡ hòa cho đội tuyển Đức. Nia Künzer đội đầu ghi bàn trong hiệp phụ và Đức đoạt chức vô địch thế giới nhờ vào quy định bàn thắng vàng. Liên đoàn bóng đá Đức là liên đoàn đầu tiên và cho đến nay (2007) là liên đoàn duy nhất đã đoạt giải vô địch bóng đá thế giới ở cả nam lẫn nữ. Chiến thắng này là một đột phá cho nền bóng đá nữ ở Đức. Hằng ngàn người hâm mộ đã nhiệt liệt đón chào khi đội tuyển vô địch thế giới về đến quê hương.

Đội hình vô địch thế giới 2003:

Silke RottenbergKerstin Stegemann, Ariane Hingst, Sandra Minnert, Stefanie GottschlichKerstin Garefrekes (phút 76 Martina Müller), Bettina Wiegmann, Renate Lingor, Pia Wunderlich (phút 88 Nia Künzer) – Maren Meinert, Birgit Prinz
Bàn thắng: Künzer, Meinert [8]

Trận thi đấu đầu tiên sau giải vô địch thế giới là trận gặp Bồ Đào Nha trong vòng loại Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Tỉ số 13:0 cho đến nay là chiến thắng cao nhất của đội tuyển Liên đoàn bóng đá Đức. Trong năm kế tiếp đội đến Athena tham dự Thế vận hội. Trận đầu tiên (gặp Trung Quốc) đã mang lại chiến thắng 8:0. Birgit Prinz ghi 4 bàn thắng trong trận này. Trận tứ kết gặp Nigeria là một trận thắng cực nhọc. Nhờ vào bàn thắng của Steffi Jones và Conny Pohlers mà đội Đức đã lật ngược được tình thế. Đội bóng Hoa Kỳ đã phục thù cho Giải vô địch thế giới năm trước đấy khi gặp đội tuyển Đức trong trận bán kết. Kristine Lilly mở tỉ số trước cho đội tuyển Hoa Kỳ, tuy Isabell Bachor đã gỡ hòa ngay trong những phút cuối cùng của hiệp 2 nhưng cuối cùng đội Hoa Kỳ đã ghi bàn thắng trong hiệp phụ. Đội tuyển Đức nhận huy chương đồng thứ nhì sau khi chiến thắng đội Thụy Điển trong trận tranh giải hạng ba.

2005-đến nay:Xây dựng mới, bảo vệ thành công chức vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá châu Âu 2005 được tổ chức tại Anh quốc. Sau chiến thắng đầu tiên đầy khó nhọc 1:0 trong trận gặp Na Uy, đội tuyển Đức đã chiến thắng các đội Ý và Pháp đầy thuyết phục. Đối thủ của trận bán kết là Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Phần Lan. Đội bóng Bắc Âu đã bị bất ngờ trước các bàn thắng nhanh chóng của Inka Grings (2 bàn) và Conny Pholers. Sau bàn gỡ của đối phương, Birgit Prinz đã ghi bàn mang lại quyết định cho trận đấu. Na Uy là đối thủ trong trận chung kết. Đội tuyển Đức dẫn trước với hai bàn thắng của Inka Grings và Renate Lingor. Dany Mellgren rút ngắn khoảng cách tỉ số ngay trước khi nghỉ giữa trận. Birgit Prinz đã ghi bàn thắng quyết định cho đội tuyển Đức. Sau giải vô địch này Tina Theune-Meyer đã giao lại chức vụ huấn luyện viên cho người phụ tá là Silvia Neid.

Đội hình vô địch châu Âu 2005:

Silke RottenbergKerstin Garefrekes; Ariane Hingst; Steffi Jones; Sandra MinnertBritta Carlson (Sarah Günther); Inka Grings (Sandra Smisek); Renate Lingor; Conny PohlersAnja Mittag (Petra Wimbersky); Birgit Prinz
Bàn thắng: Grings, Lingor, Prinz[9]

Với Silvia Neid là huấn luyện viên trưởng, đội tuyển Đức lần đầu tiên đoạt Cúp Algarve năm 2006. Đội tuyển một lần nữa được trẻ hóa, các nữ cầu thủ mới như Annike Krahn hay Célia Okoyino da Mbabi trở thành những cầu thủ dẫn đầu mặc dầu vẫn còn trong độ tuổi rất trẻ. Đội bóng đá nữ của Silvia đã thắng tất cả 8 trận trong vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007 được tổ chức tại Trung Quốc. Lần đầu tiên, đội tuyển Đức đã nhận được một khoản tiền thưởng từ Liên đoàn bóng đá Đức khi qua được vòng loại của một giải vô địch lớn. Đội tuyển đã nhận được tổng cộng 200.000 Euro.

Một cảnh trong trận thi đấu Đức-Séc tại Gera vào ngày 2 tháng 8 năm 2007

Năm tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới khởi đầu không mấy may mắn cho đội tuyển Đức. Giải 4 đội quốc gia tại Trung Quốc chỉ mang lại 3 trận hòa Trung Quốc, Anh và Hoa kỳ. Tại Cúp Algarve vào tháng 3 đội chỉ có một trận thắng duy nhất trong trận gặp Đan Mạch nhưng lại thua 3 trận khi gặp các đội tuyển của Na Uy, Pháp và Ý, đứng hạng thứ 8. Đội tuy đã thi đấu áp đảo trong tất cả các trận nhưng lại bỏ lỡ cơ hội ghi bàn thắng rất nhiều lần. Vì kết quả của cúp này mà vào tháng 3 năm 2007 đội tuyển Đức đã phải nhường vị trí dẫn đầu trong danh sách xếp hạng của FIFA lại cho Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hoa Kỳ sau hơn 3 năm đứng đầu bảng.

Cùng với các trận thi đấu vòng loại của Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2009, đội đã có thể tiếp tục kết nối với các thành tích trước đây: thắng Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Hà Lan với tỉ số 5:1. Trận thi đấu gặp Thụy Sĩ trong vòng loại Giải vô địch châu Âu cũng là dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập đội bóng nữ, chiến thắng 7:0 trong trận này cũng là chiến thắng lần thứ 200 trong các trận thi đấu quốc tế.

Trong vòng thi đấu bảng tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2007, đội tuyển gặp các đội bóng của Argentina, Anh và Nhật. Nhờ chiến thắng đội Argentina (11:0, chiến thắng đậm nhất từ trước đến nay trong Giải vô địch bóng đá thế giới) và đội Nhật (2:0) cũng như hòa đội Anh mà đội tuyển Đức lọt vào vòng tứ kết. Đội bóng Đức thắng trận tứ kết gặp Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Triều Tiên với tỉ số 3:0. Cũng với tỉ số 3:0, đội đã thắng đội tuyển Na Uy trong trận bán kết. Đánh bại đội tuyển Brasil trong trận chung kết ngày 30 tháng 9 năm 2007 tại Thượng Hải (2:0), đội lại một lần nữa đoạt chức vô địch thế giới. Nhờ vào nữ thủ môn Nadine Angerer mà đội đạt thêm một kỷ lục mới: không một bàn thua trong suốt một giải vô địch.

Đội hình vô địch thế giới 2007:

Nadine AngererKerstin Stegemann; Annike Krahn; Ariane Hingst; Linda Bresonik - Kerstin Garefrekes; Simone Laudehr; Renate Lingor; Melanie Behringer (Martina Müller) – Sandra Smisek (Fatmire Bajramaj); Birgit Prinz
Bàn thắng: Prinz, Laudehr

Đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm 22 tháng 9 năm 2007, đội hình thi đấu Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007

Số áo Tên Ngày sinh Thi đấu lần đầu Câu lạc bộ Số trận thi đấu Bàn thắng
Thủ môn
1 Nadine Angerer 10/11/1978 1996 1. FFC Turbine Potsdam 53 -
12 Ursula Holl 26/06/1982 2007 SC 07 Bad Neuenahr 2 -
21 Silke Rottenberg 25/01/1972 1993 1.FFC Frankfurt 123 -
Hậu vệ
3 Saskia Bartusiak 29/09/1982 2007 1.FFC Frankfurt 6 -
15 Sonja Fuss 05/11/1978 1996 FCR 2001 Duisburg 51 3
17 Ariane Hingst 25/07/1979 1996 Djurgården Damfotboll 139 9
5 Annike Krahn 01/07/1985 2005 FCR 2001 Duisburg 29 1
13 Sandra Minnert 07/04/1973 1992 SC 07 Bad Neuenahr 144 15
4 Babett Peter 12/05/1988 2006 1. FFC Turbine Potsdam 13 -
2 Kerstin Stegemann 29/09/1977 1995 SG Wattenscheid 09 168 7
Tiền vệ
19 Fatmire Bajramaj 01/04/1988 2005 FCR 2001 Duisburg 11 1
7 Melanie Behringer 18/11/1985 2005 SC Freiburg 21 8
6 Linda Bresonik 07/12/1983 2001 SG Essen-Schönebeck 34 2
18 Kerstin Garefrekes 04/09/1979 2001 1. FFC Frankfurt 84 28
14 Simone Laudehr 12/07/1986 2007 FCR 2001 Duisburg 7 1
10 Renate Lingor 11/10/1975 1995 1. FFC Frankfurt 135 33
20 Petra Wimbersky 09/11/1982 2001 1. FFC Frankfurt 66 15
Tiền đạo
11 Anja Mittag 16/05/1985 2001 1. FFC Turbine Potsdam 41 5
16 Martina Müller 18/04/1980 2000 VfL Wolfsburg 61 27
9 Birgit Prinz Đội trưởng 25/10/1977 1994 1. FFC Frankfurt 170 114
8 Sandra Smisek 03/07/1977 1995 1. FFC Frankfurt 122 31
Huấn luyện viên
Huấn luyện viên trưởng Silvia Neid 02/05/1964 2005 Liên đoàn bóng đá Đức
Phụ tá Ulrike Ballweg 17/09/1965 2005 Liên đoàn bóng đá Đức - -

Các cựu nữ cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích: Nữ cầu thủ có đánh dấu * là vẫn còn thi đấu

Các nữ cầu thủ giữ kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Tham gia thi đấu nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Các nữ cầu thủ dưới đây đã tham gia thi đấu quốc tế ít nhất là 100 lần:[10]

Số lần Tên Thi đấu lần đầu Thi đấu lần cuối
170 Birgit Prinz 27 tháng 7 năm 1994 vẫn còn thi đấu
168 Kerstin Stegemann 13 tháng 4 năm 1995 vẫn còn thi đấu
154 Bettina Wiegmann 1 tháng 10 năm 1989 12 tháng 10 năm 2003
144 Doris Fitschen 4 tháng 10 năm 1986 7 tháng 7 năm 2001
Sandra Minnert 28 tháng 5 năm 1992 vẫn còn thi đấu
139 Ariane Hingst 27 tháng 8 năm 1996 vẫn còn thi đấu
135 Renate Lingor 25 tháng 10 năm 1995 vẫn còn thi đấu
125 Martina Voss 3 tháng 10 năm 1984 16 tháng 3 năm 2000
123 Silke Rottenberg 7 tháng 4 năm 1993 vẫn còn thi đấu
122 Sandra Smisek 13 tháng 4 năm 1995 vẫn còn thi đấu
111 Steffi Jones 3 tháng 7 năm 1993 14 tháng 3 năm 2007
Silvia Neid 10 tháng 11 năm 1982 25 tháng 7 năm 1996
104 Heidi Mohr 19 tháng 5 năm 1986 29 tháng 9 năm 1996
102 Pia Wunderlich 7 tháng 12 năm 1993 1 tháng 3 năm 2006

Ghi bàn thắng nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Các nữ cầu thủ sau đây đã ghi ít nhất 25 bàn thắng trong các trận thi đấu quốc tế[11]

Số bàn thắng Đá phạt 11 m Tên Ngày ghi bàn thắng đầu tiên Ngày ghi bàn thắng cuối cùng
114 1 Birgit Prinz 27 tháng 7 năm 1994 vẫn còn thi đấu
83 0 Heidi Mohr 27 tháng 7 năm 1986 29 tháng 9 năm 1996
51 14 Bettina Wiegmann 14 tháng 10 năm 1990 27 tháng 9 năm 2003
48 0 Silvia Neid 10 tháng 11 năm 1982 25 tháng 10 năm 1995
41 0 Inka Grings 28 tháng 5 năm 1998 20 tháng 10 năm 2005
34 7 Renate Lingor 14 tháng 2 năm 1999 vẫn còn thi đấu
1 Maren Meinert 3 tháng 7 năm 1993 12 tháng 10 năm 2003
31 0 Sandra Smisek 13 tháng 4 năm 1995 vẫn còn thi đấu
30 0 Patricia Brocker (tên thời con gái Grigoli) 18 tháng 4 năm 1992 28 tháng 6 năm 1996
28 0 Kerstin Garefrekes 27 tháng 1 năm 2002 vẫn còn thi đấu
27 0 Martina Müller 10 tháng 5 năm 2001 vẫn còn thi đấu
0 Martina Voss 27 tháng 7 năm 1986 14 tháng 10 năm 1999
25 0 Conny Pohlers 25 tháng 10 năm 2001 vẫn còn thi đấu

Cho đến nay có 2 nữ cầu thủ ghi 5 bàn thắng trong một trận thi đấu quốc tế: Conny Pohlers trong trận gặp Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Bồ Đào Nha vào ngày 25 tháng 10 năm 2001 và Inka Grings cũng trong trận gặp đội tuyển Bồ Đào Nha vào ngày 7 tháng 2 năm 2004.

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gero Bisanz (1982-1996) sinh ngày 3 tháng 11 năm 1935 là huấn luyện viên đầu tiên của Đội bóng đá nữ quốc gia Đức. Vị huấn luyện viên trưởng này đã dẫn dắt thành công đội bóng trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1989, 19911995. Năm 1993 đội về hạng 4, cho đến nay là thành tích kém nhất trong Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu. Trong các Giải vô địch bóng đá thế giới Bisanz đã cùng với đội tuyển đứng hạng 4 năm 1991 và hạng nhì năm 1995. Ông đã cùng Tina Theune-Meyer định hướng thành công cho việc đào tạo đội cầu thủ trẻ.
  • Tina Theune-Meyer (1996-2005) sinh ngày 4 tháng 11 năm 1953 tiếp nhận chức vụ huấn luyện viên trưởng sau Thế vận hội mùa hè 1996. Theune-Meyer là người phụ nữ đầu tiên có bằng huấn luyện viên bóng đá. Dưới sự lãnh đạo của bà đội tuyển Đức đã đoạt chức vô địch trong các Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 1997, 20012005. Đội đoạt huy chương đồng trong Thế vận hội 2000 và 2004. Thành công lớn nhất của bà là các chiến thắng trong Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2003 tại Hoa Kỳ. Tina Theune-Meyer là nữ huấn luyện viên đội tuyển quốc gia thành công nhất cho đến nay. Bà đã gặt hái thành quả đào tạo mầm non và đã đưa nhiều nữ tuyển thủ của đội U-19 vào đội tuyển quốc gia. Bà xin từ chức sau thành công trong Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2005.
  • Silvia Neid (từ 2005) sinh ngày 02 tháng 5 năm 1964, trước đó là phụ tá của Tina Theune-Meyer và đã là huấn luyện viên của đội tuyển quốc gia U-19. Bà đã cùng đội U-19 đoạt chức vô địch thế giới năm 2005. Việc Silvia Neid kế nhiệm chức vụ huấn luyện viên không phải là đã không gây ra tranh cãi. Sau thất bại trong Cúp Algarve 2007, bà đã bị nhiều cổ động viên chỉ trích về phương pháp làm việc cũng như trong việc tuyển lựa nữ cầu thủ cho đội tuyển. Tuy vậy Neid đã bảo vệ thành công danh hiệu vô địch thế giới tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007. Hợp đồng huấn luyện viên của bà với Liên đoàn bóng đá Đức được ký kết kéo dài cho đến năm 2011 ngay trong khi giải vô địch đang được tiến hành. Trợ lý huấn luyện viên là Ulrike Ballweg.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Thông thường các nữ cầu thủ mang áo trắng, quần đen và tất trắng. Màu trắng đen là màu truyền thống của nước Phổ. Áo trắng có mang vạch của adidas trên vai. Vào khoảng từ cổ đến ngang thắt lưng là một đường sọc có chiều ngang rộng thêm ra, bên phải là màu đỏ, bên trái là màu vàng. Trang phục phụ bao gồm áo đỏ cũng có 2 vạch màu như trang phục chính nhưng lại là màu trắng, quần trắng và tất đỏ. Trước đây đội tuyển có trang phục phụ bao gồm áo xanh, quần trắng và tất xanh.

Từ khi đoạt Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2003 các nữ tuyển thủ quốc gia Đức mang một ngôi sao trên áo. Trước đấy đội mang 3 ngôi sao tượng trưng cho 3 lần vô địch thế giới của Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Adidas là doanh nghiệp trang bị cho đội tuyển.

Sân thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như đội tuyển nam, đội tuyển nữ của Đức không có sân thi đấu cố định. Các trận thi đấu trên sân nhà được luân phiên tổ chức tại nhiều sân vận động khác nhau. Cho đến thời điểm 10 tháng 9 năm 2007 đội tuyển nữ của Đức đã thi đấu tại 83 thành phố Đức. Đội nam chỉ thi đấu tại 40 sân khác nhau mặc dầu đã thi đấu nhiều trận hơn. Phần lớn các trận thi đấu được tổ chức tại OsnabrückUlm. Hai thành phố này cho đến nay đã 5 lần là chủ nhà. Đội hình của DFB thi đấu 3 lần tại mỗi một thành phố Koblenz, Lüdenscheid, Rheine, SiegenWeil am Rhein.

Trận đấu đội tuyển nữ Đức và Brazil tại sân Frankfurt ngày 22-4-09, trước 44.825 khán giả

Trong những năm của thập niên 1980 và 1990 các trận thi đấu trên sân nhà thường được tổ chức tại các thành phố nhỏ, không có câu lạc bộ bóng đá thuộc các hạng cao. Vì thế mà Helmstedt, Warendorf hay Spremberg đã từng là nơi thi đấu của đội tuyển. Nhờ vào thành tích của đội tuyển mà lượng khán giả ngày càng đông. Khi trên 10.000 khán giả bắt đầu trở thành thường lệ, các sân vận động lớn hơn trở nên cần thiết. Ngày nay đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Đức thường thi đấu trên các sân vận động có sức chứa từ 10.000 đến 25.000 khán giả.

Ngược lại, đội thường ít khi thi đấu tại các đô thị lớn. Cho đến nay đội chỉ thi đấu tại Berlin, Frankfurt am MainHamburg mỗi nơi 1 lần. Các thành phố lớn khác như Bremen, Dortmund, Essen, Köln, Leipzig, München, NürnbergStuttgart chưa từng là nơi thi đấu của đội tuyển.

Quảng Châu là nơi đội tuyển thi đấu nhiều nhất ngoài nước Đức. Đội tuyển Đức đã thi đấu tổng cộng 9 lần tại đây. Việc này có nguyên nhân là do đội tuyển của DFB tham dự Giải 4 quốc gia được tổ chức hằng năm tại Trung Quốc. Tiếp theo đó là thành phố Faro của Bồ Đào Nha, thường là nơi tổ chức các trận thi đấu của Cúp Algarve. Đội đã thi đấu tại đây 6 lần.

Các trận thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Xem chi tiết: Danh sách các trận thi đấu quốc tế của Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Đức

Thi đấu năm 2007[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày tháng Nơi thi đấu Đối thủ Giải Kết quả Nữ cầu thủ ghi bàn
26 tháng 1 2007 Quảng Châu (Trung Quốc) Flag of the United States.svg Hoa Kỳ Giải 4 quốc gia 0:0
28 tháng 1 2007 Quảng Châu (Trung Quốc) Flag of the People's Republic of China.svg Trung Quốc Giải 4 quốc gia 0:0
30 tháng 1 2007 Quảng Châu (Trung Quốc) Flag of England (bordered).svg Anh Giải 4 quốc gia 0:0
7 tháng 3 2007 Faro (Bồ Đào Nha) Flag of Norway.svg Na Uy Cúp Algarve 1:2 Lingor 18’
9 tháng 3 2007 Faro (Bồ Đào Nha) Flag of France.svg Pháp Algarve Cup 0:1
thứ 12 tháng 3 2007 Vila Real de Santo António (Bồ Đào Nha) Flag of Denmark.svg Đan Mạch Algarve Cup 3:0 Mittag 16’, Cederkvist/ET 44’, Behringer 48’
14 tháng 3 2007 Olhão (Bồ Đào Nha) Flag of Italy.svg Ý Algarve Cup 0:1
12 tháng 4 2007 Wattenscheid Flag of the Netherlands.svg Hà Lan Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu 2009 (vòng loại) 5:1 Torny 17); Prinz 31’, Mittag 34’, Lingor 48’, 69’, Garefrekes 68’
10 tháng 5 2007 Haverfordwest (Wales) Flag of Wales.svg Wales Vòng loại Giải vô địch châu Âu 6:0 Prinz 8’, 20’, 87’, Stegemann 45’, Garefrekes 81’, Müller 85’
29 tháng 7 2007 Magdeburg Flag of Denmark.svg Đan Mạch Thi đấu hữu nghị 4:0 Johansen 13, lưới nhà’, Prinz 20’, Bajramaj 73’, Pohlers 89’
2 tháng 8 2007 Gera Flag of the Czech Republic (bordered).svg Cộng hòa Séc Thi đấu hữu nghị 5:0 Prinz 19, 90’, Laudehr 25’, Garefrekes 38’, M. Müller 83’
22 tháng 8 2007 Koblenz Flag of Switzerland.svg Thụy Sĩ Vòng loại Giải vô địch châu Âu 7:0 Smisek 14’, Behringer 16, 35’, Prinz 33’, Garefrekes 53’, 64’, 90’
30 tháng 8 2007 Mainz Flag of Norway.svg Na Uy Thi đấu hữu nghị 2:2 Behringer 22’, Prinz 75’; Larsen Kaurin 1’, R. Gulbrandsen 28’
10 tháng 9 2007 Thượng Hải (Trung Quốc) Flag of Argentina.svg Argentina Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007 11:0 Behringer 12’, 24’, Garefrekes 17’, Prinz 29’, 45, 59’, Lingor 51, 90.’, Smisek 57’, 70’, 79’
14 tháng 9 2007 Thượng Hải Flag of England (bordered).svg Anh Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2007 0:0
17 tháng 9 2007 Hàng Châu Flag of Japan (bordered).svg Nhật Bản Giải vô địch bóng đá thế giới 2007 2:0 Prinz 21’, Lingor 87’
22 tháng 9 2007 Vũ Hán (Trung Quốc) Flag of North Korea.svg CHDCND Triều Tiên Tứ kết Giải vô địch thế giới nữ thế giới 3:0 Garefrekes 44’, Lingor 67’, Krahn 72’
26 tháng 9 2007 Thiên Tân (Trung Quốc) Flag of Norway.svg Na Uy Bán kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 3:0 Rønning 42’, Stegemann 72’, Müller 75’
30 tháng 9 2007 Thượng Hải (Trung Quốc) Flag of Brazil.svg Brasil Chung kết Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2:0 Prinz 52’, Laudehr 86’

Thống kê các trận thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là bản thống kê các trận thi đấu quốc tế của đội (thời điểm tháng 10 năm 2007):

Quốc gia Số trận thi đấu Số trận thắng Số trận hòa Số trận thua Bàn thắng
Argentina Argentina 2 2 0 0 17:1
Úc Úc 2 1 0 1 3:1
Bỉ Bỉ 4 1 2 1 4:5
Brasil Brasil 6 4 2 0 16:6
Trung Quốc Trung Quốc 22 9 5 8 39:29
Dnemark Đan Mạch 17 11 3 3 40:15
Anh Anh 17 15 2 0 46:10
Phần Lan Phần Lan 7 6 0 1 21:2
Pháp Pháp 8 6 0 2 21:3
Ireland Ireland 2 2 0 0 4:0
Iceland Iceland 10 10 0 0 46:3
Ý Ý 23 12 6 5 38:17
Nhật Nhật 6 6 0 0 16:5
Nam Tư Nam Tư 1 1 0 0 3:0
Canada Canada 8 8 0 0 29:10
Croatia Croatia 2 2 0 0 15:0
Mexico Mexico 2 2 0 0 8:0
New Zealand New Zealand 2 2 0 0 12:1
Hà Lan Hà Lan 14 8 4 2 31:11
Nigeria Nigeria 4 4 0 0 12:2
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 1 1 0 0 3:0
Na Uy Na Uy 29 13 5 11 50:42
Ba Lan Ba Lan 4 4 0 0 21:1
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha 4 4 0 0 41:0
Nga Nga 13 11 2 0 42:6
Scotland Scotland 4 4 0 0 17:1
Thụy Điển Thụy Điển 15 10 0 5 26:21
Thụy Sĩ Thụy Sĩ 13 12 1 0 64:2
Slovakia Slovakia 2 2 0 0 5:0
Sowjetunion Liên bang Xô viết 1 1 0 0 3:0
Tây Ban Nha Tây Ban Nha 1 1 0 0 6:0
Trung Hoa Dân Quốc Trung Hoa Dân Quốc 1 1 0 0 3:0
Cộng hòa Séc Cộng hòa Séc 3 3 0 0 14:0
Tiệp Khắc Tiệp Khắc 4 3 1 0 9:1
Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ 1 1 0 0 12:1
Ukraina Ukraina 6 5 1 0 24:3
Hungary Hungary 7 5 1 1 13:2
Hoa Kỳ Hoa Kỳ 25 6 3 16 25:51
Wales Wales 3 3 0 0 30:0
Tổng cộng 299 203 41 55 840:254 [12]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]