Hải quân Việt Nam Cộng hòa
Hải quân Việt Nam Cộng hòa là lực lượng thủy quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hoạt động trên cả vùng sông nước và lãnh hải Việt Nam Cộng hòa. Trong thời gian tồn tại của mình từ năm 1954 đến năm 1975, trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, Hải quân Việt Nam Cộng hòa từng là một trong những lực lượng hải quân mạnh nhất của vùng Đông Dương. Khẩu hiệu chính là "Tổ Quốc - Đại Dương".
Lực lượng hình thành [sửa]
|
||||||||||||
Trước khi triệt thoái khỏi Việt Nam theo Hiệp định Geneve 1954, quân đội Pháp đã để lại cho quân đội Quốc gia Việt Nam một số chiến hạm và giang đỉnh. Sau đó, cộng thêm với những giang đĩnh của các đoàn tuần giang bán chính quy sáp nhập vào, lực lượng thủy quân Quốc gia Việt Nam gồm có những đơn vị sau:
- 3 hộ tống hạm (patrol craft PC)
- 2 hải vận hạm (landing ship medium LSM)
- 1 tàu thủy đạo (batiment hydrographe)
- 3 trục lôi hạm (dragueur, yard mine sweeper YMS)
- 2 trợ chiến hạm (landing ship support large LSSL)
- 5 giang pháo hạm (landing ship infantery large LSIL)
- 4 giang vận hạm (landing craft utility LCU)
- 2 tuần duyên hạm (garde côtière GC)
- 70 quân vận đĩnh (landing craft mechanized LCM). Trong số này có 2 tiền phong đĩnh (LCM monitor), 4 soái đĩnh (LCM de Commandement), 53 quân vận đĩnh bọc thép (LCM blinde) và 11 quân vận đĩnh loại nhẹ (LCM leger).
- 95 tiểu đĩnh gọi chung là vơ-đét (vedette), trong đó có 17 chiếc loại ứng chiến (vedette d'interception), 1 vơ-đét canh phòng (vedette de surveillance), 6 chiếc loại tuần cảng Y (yard). Ngoài ra là các Tiểu Giáp Đĩnh: 36 chiếc loại STCAN, 12 chiếc loại FOM dài 8 mét và 23 chiếc loại FOM dài 11 mét.
- 100 tiểu vận đĩnh LCVP (landing craft vehicle personnel), tức là loại tàu nhỏ cỡ như vơ-đét chở được 6 người, trong đó có 81 loại bình thường và 19 loại nhẹ.
- 15 sà lan trong đó một sà lan máy, 1 sà lan chở nước và 13 sà lan thường.
- 3 tàu dòng (remorqueur)
Ngoài ra, phần lớn các chiến hạm đã cũ và có một vài chiếc không còn dùng được.
Những chỉ huy đầu tiên [sửa]
Trong những năm đầu mới thành lập, các sĩ quan hải quân người Việt chỉ mới tốt nghiệp từ quân trường. Vì cấp bậc còn quá thấp, họ không đủ thâm niên để nắm giữ bất cứ một chức vụ quan trọng nào. Ngay cả chức vụ Trưởng ban Hải quân kiêm Phụ tá Hải quân Việt Nam cạnh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, đáng lẽ phải là sĩ quan Hải quân Việt Nam, cũng do giới chức ở ngoài nắm giữ. Tính đến năm 1955, nếu không kể đến Hạm đội Pháp tại Viễn Đông, Đại tá Récher là sĩ quan Hải quân cao cấp nhất của Hải quân Pháp tại Việt Nam. Vì thế, ông đảm nhiệm cả hai chức vụ Phụ tá Hải quân cho Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam và quyền Chỉ huy trưởng Hải quân Quốc gia Việt Nam.
Cho đến cuối năm 1954, khi Hải quân Pháp bắt đầu chuyển giao quyền chỉ huy các đơn vị thủy quân cho Việt Nam, quân số Hải quân Quốc gia Việt Nam vẫn còn rất ít. Về cấp sĩ quan, chỉ có một Đại úy Lê Quang Mỹ, tất cả sĩ quan Khóa 1, 2, 3 đều là trung úy, Khóa 4 và 5 là thiếu úy. Ngoài ra, còn thêm các sĩ quan hải quân đầu tiên tốt nghiệp Trường Hải quân Brest (École Navale de Brest) hồi hương khoảng cuối mùa hè 1955.
Do nhu cầu điều động thủy quân trong các cuộc hành quân, ngày 1 tháng 7 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Thiếu tướng Trần Văn Đôn, Phụ tá Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, kiêm nhiệm chức vụ Trưởng ban Hải quân thay thế Đại tá Récher. Tuy nhiên, việc chuyển quyền chỉ có tính cách chính trị vì toàn bộ sĩ quan của Ban Hải quân dưới quyền tướng Đôn đều là các sĩ quan Hải quân Pháp. Cũng vì lý do này mà Chiến dịch Hoàng Diệu đáng lẽ được tiến hành từ tháng 7 năm 1955, nhưng mãi tới ngày 21 tháng 9 năm 1955 mới khởi sự được.
Khi đó chỉ mới có Hải đoàn Xung phong số 21 được đặt dưới sự điều động của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tá Lê Quang Mỹ làm Hải đoàn trưởng. Các hải đoàn khác tuy đã do sĩ quan Việt Nam làm chỉ huy trưởng, nhưng về hệ thống vẫn còn trực thuộc Bộ Chỉ huy Giang lực (COFFLUSIC) của Pháp. Vì vậy, trong thời gian diễn ra chiến dịch, các hải đoàn Việt Nam tham chiến được đặt dưới quyền chỉ huy tạm thời của Thiếu tá Lê Quang Mỹ. Vào ngày 20 tháng 8 năm 1955, bằng một nghị định chính thức, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Thiếu tá Lê Quang Mỹ vào chức vụ Trưởng ban Hải quân, Phụ tá Hải quân cạnh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, thay tướng Đôn để chỉ huy hải quân và đoàn thủy quân lục chiến. Vì lẽ này, ông được xem là Chỉ huy trưởng đầu tiên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa.
Danh sách các tư lệnh qua các thời kỳ [sửa]
| Họ tên | Thời gian tại chức | Cấp bậc tại nhiệm | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Lê Quang Mỹ |
|
Thiếu tá (1954), Trung tá (1955), Đại tá (1956) | Chỉ huy trưởng Hải quân đầu tiên. Sử dụng chức danh Phụ tá Hải quân cho Tổng tham mưu trưởng |
| Trần Văn Chơn |
|
Trung tá | |
| Hồ Tấn Quyền |
|
Đại tá | Đổi sang chức danh Tư lệnh Hải quân. Bị ám sát ngày 1 tháng 11 năm 1963 |
| Chung Tấn Cang |
|
Đại tá (1963), Phó đề đốc (1964) | |
| Trần Văn Phấn |
|
Đại tá | |
| Cao Văn Viên |
|
Trung tướng | kiêm nhiệm trong 1 thời gian ngắn |
| Trần Văn Chơn |
|
Đại tá (1966), Phó đề đốc (1967), Đề đốc (1971) | |
| Lâm Ngươn Tánh |
|
Đề đốc | |
| Chung Tấn Cang |
|
Phó đô đốc | Tư lệnh cuối cùng. Nhậm chức ngày 24 tháng 3, đào nhiệm ngày 29 tháng 4 năm 1975. |
Phát triển lực lượng [sửa]
Ngày 7 tháng 11 năm 1955, Pháp chuyển giao Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang lại cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Khi đó, Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang huấn luyện các khóa sĩ quan sau đây:
- Khóa 6 Sĩ quan Hải quân với tổng số 21 sinh viên sĩ quan, gồm 16 thuộc ngành Chỉ huy và 5 ngành Cơ khí. Nhập trường ngày 21 tháng 4 năm 1955, thời gian thụ huấn 11 tháng. Mãn khóa ngày 8 tháng 3 năm 1956.
- Khóa 7 Sĩ quan Hải quân bắt đầu tuyển mộ vào cuối năm 1955. Khóa này được khai giảng tại Nha Trang vào đầu năm 1956. Học trình kể cả thực tập ngoài đơn vị, được nâng lên hai năm với đầy đủ các môn học văn hóa, kiến thức và chuyên nghiệp cho hai ngành chỉ huy và cơ khí.
Kể từ đó, mỗi năm Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang đào tạo khoảng 1.200 nhân sự các cấp.
Ngày 7 tháng 12, để bành trướng các hoạt động ở sông rạch, mỗi hải đoàn được trang bị 6 LCM, 4 LCVP và 6 hô bo (hors bord) có vận tốc cao. Hải quân tiếp nhận hai trợ chiến hạm (landing ship support large LSSL): HQ.225 và HQ.226.
Về quân số, vào tháng 7 năm 1955, Hải quân Việt Nam Cộng hòa có 3.858 người, kể cả 1.291 thủy quân lục chiến. Cũng trong năm này, Hải quân thành lập các lực lượng lớn và tất cả Bộ Chỉ huy đều đặt tại Sài Gòn.
Hải lực, gồm có:
- 3 hộ tống hạm loại PC (patrol craft hay submarine chaser): Chi Lăng HQ.01, Vạn Kiếp HQ.02, Đống Đa HQ.03
- 3 trục lôi hạm loại YMS: Hàm Tử HQ.111, Chương Dương HQ.112, Bạch Đằng HQ.113
- 2 trợ chiến hạm loại LSSL: HQ.225 Nỏ Thần và HQ.226 Linh Kiếm
- 4 hải vận hạm loại LSM (landing ship medium): Hát Giang HQ.400, Hàn Giang HQ.401, Lam Giang HQ.402, Ninh Giang HQ.403
- 10 tuần duyên đĩnh loại WBP (một loại Coast Guart Patrol Cutter)
Giang lực, gồm có:
- 5 hải đoàn, mỗi hải đoàn được trang bị tối thiểu 5 quân vận đĩnh (landing craft mechanized LCM), 4 tiểu vận đĩnh (landing craft, vehicle and personnel LCVP), 5 hô-bo có vận tốc cao
- 4 giang pháo hạm loại LSIL (landing ship, infantry, large)
- 5 giang vận hạm loại LCU (landing craft utility)
- 4 chiếc YTL (yard tug, light hay harbor craft)
Hậu cứ các hải đoàn được đặt tại Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long Xuyên và Cát Lái.
Các đơn vị bờ gồm có:
- Bốn duyên khu tại Phú Quốc, Nha Trang, Vũng Tàu và Đà Nẵng
- Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang
- Hải quân Công xưởng
- Trung tâm Tiếp liệu
- Các Thủy xưởng Cần Thơ, Đà Nẵng
- Thủy quân lục chiến: Kể từ ngày 21 tháng 12, Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa Lê Quang Mỹ công bố Thủy quân lục chiến Việt Nam hình thành và bắt đầu hoạt động như là một đại đơn vị của Hải quân.
- Bộ Tư lệnh Hải Quân được đặt ở Trại Bạch Đằng sau khi Pháp bàn giao căn cứ Caserne Francis Garnier ở bờ sông Sài Gòn.
- Về quân y, Y sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước đảm nhiệm chức vụ Y sĩ trưởng Hải quân. Bộ Chỉ huy Thủy quân lục chiến cùng đóng chung ở Trại Bạch Đằng. Y sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước cũng phụ trách luôn phần quân y cho Thủy quân lục chiến.
Các chiến dịch và trận đánh tiêu biểu [sửa]
- Chiến dịch Hoàng Diệu
- Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng 1
- Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng 2
- Chiến dịch Nguyễn Huệ
- Các chiến dịch xâm nhập hải phận miền Bắc Việt Nam
- Hải chiến Hoàng Sa
Danh sách các loại chiến hạm của Hải quân Việt Nam Cộng hòa [sửa]
Phần lớn tàu chiến của Hải quân Việt Nam Cộng hòa là từ Hải quân Mỹ chuyển thẳng qua, chỉ một số nhỏ ghe tuần tiểu là do Pháp chuyển lại.
- Ghe Nautilus
- Duyên tốc đĩnh PCF (Swift)
- Khinh tốc đĩnh PTF
- PTF loại cũ
- PTF Na Uy (Nasty)
- PTF Osprey
Sau biến cố 1975, một số chiến hạm đã rời Việt Nam đến Phi luật Tân. Tên của các hạm nầy được ghi lại bằng chữ nghiêng.
Chữ viết tắt dùng trong phần danh sách các hạm
- TT: Trọng tải
- KT: dài × rộng × mớm nước
- VT: Vận tốc
- TD: Thủy thủ đoàn
- VK: Vũ khí
Khu trục hạm [sửa]
- HQ-01 Trần Hưng Đạo, trước là USS Camp (DE-251)
- HQ-04 Trần Khánh Dư, trước là USS Forster (DE-334)
-
-
TT 1590 tấn tiêu chuẩn KT 93.26 x 11.22 x 4.00 VT 19 knots TD 150 người VK 2/76 mm AA - 6 ASW TT Range 11 500 miles / 11 knots Dầu 300 tấn Máy dầu cặn Fairbanks Morse ; 2 chân vịt; 6 000 ngựa
-
Tuần dương hạm [sửa]
- HQ-02 Trần Quang Khải, trước là USS Cook Inlet, WHEC-384
- HQ-03 Trần Nhật Duật, trước là USS Yakutat, WHEC-380
- HQ-05 Trần Bình Trọng, trước là USS Castle Rock, WHEC-383
- HQ-06 Trần Quốc Toản, trước là USS McCulloch, WHEC-386
- HQ-15 Phạm Ngũ Lão, trước là USS Absecon, WHEC-374
- HQ-16 Lý Thường Kiệt, trước là USS Bering Strait, WHEC-382
- HQ-17 Ngô Quyền, trước là USS Chincoteague, WHEC-375
-
-
TT 1766 tấn tiêu chuẩn KT 94.50 x 12.52 x 3.70 VT 17 knots TD 160 người VK 1/12.7 mm AA - 6 ASW TT Range 18 000 miles / 15 knots Dầu 400 tấn Máy dầu cặn ; 2 chân vịt; 6 000 ngựa
-
Hộ tống hạm [sửa]
- HQ-07 Đống Đa II, trước là USS Crestview, PCE-895
- HQ-08 Chi Lăng II, trước là USS Gayety, MSF-239
- HQ-09 Kỳ Hòa, trước là USS Sentry, MSF-299
- HQ-11 Chí Linh, trước là USS Shelter, MSF-301
- HQ-13 Hà Hồi, trước là USS Prowess, MSF-280
-
-
TT 640 tấn tiêu chuẩn KT 56.24 x 10 x 2.75 VT 14/15 knots TD 99 người VK 1/76 mm AA 2/40 mm, 8/20 mm Máy dầu cặn General Motors 12-278A ; 2 chân vịt; 2000 ngựa
-
- HQ-10 Nhật Tảo
- HQ-12 Ngọc Hồi, trước là USS Brattleboro, PCER-852
- HQ-14 Vạn Kiếp II, trước là USS Amherst, PCER-853
-
-
TT 600 tấn tiêu chuẩn KT 56.24 x 10 x 2.75 VT 14/15 knots TD 99 người VK 1/76 mm AA 2/40 mm, 2/20 mm Máy dầu cặn General Motors 12-567A ; 2 chân vịt; 1800 ngựa
-
Trục lôi hạm (minesweeper) [sửa]
- HQ-114 Hàm Tử II, trước là MSC-281
- HQ-115 Chương Dương II, trước là MSC-282
- HQ-116 Bạch Đằng, trước là MSC-283
-
- TT : 370 tấn tiêu chuẩn KT : 44 x 7.23 x 2.55 (m)
- VT : 14 knots TD : 45 người
- VK : 2/20 mm
- Range : 2500 miles / 12 knots Dầu : 40 tấn
- Máy : dầu cặn General Motors; 2 chân vịt; 600 ngựa
Tuần duyên hạm [sửa]
- HQ 600 Phù Du, trước là PGM-64
- HQ 601 Tiền Mới, trước là PGM-65
- HQ 602 Minh Hòa, trước là PGM-66
- HQ 603 Kiến Vàng, trước là PGM-67
- HQ 604 Kéo Ngựa, trước là PGM-68
- HQ 605 Kim Quy, trước là PGM-59
- HQ 606 Mây Rút, trước là PGM-60
- HQ 607 Nam Du, trước là PGM-61
- HQ 608 Hoa Lư, trước là PGM-62
- HQ 609 Tổ Yến, trước là PGM-63
- HQ 610 Duyên Hải, trước là PGM-69
- HQ 611 Trường Sa, trước là PGM-70
- HQ 612 Thái Bình, trước là PGM-72
- HQ 613 Thi Tự, trước là PGM-73
- HQ 614 Song Tự, trước là PGM-74
- HQ 615 Tây Sa, trước là PGM-80
- HQ 616 Hoàng Sa, trước là PGM-82
- HQ 617 Phú Quý, trước là PGM-81
- HQ 618 Hòn Trọc, trước là PGM-83
- HQ 619 Tô Châu, trước là PGM-91
-
-
TT 100 tấn KT 31.00 x 6.40 x 1.83 VT 17 knots TD 2+25 người VK 1/40 mm 2/20 mm mortar 81 mm Máy 2 dầu cặn G M / Mercedes Benz ; 2 chân vịt; 1900 ngựa
-
Tuần duyên đỉnh [sửa]
- HQ 700 Lê Phước Đức, trước là Point Garnet
- HQ 701 Lê Văn Ngà, trước là Point League
- HQ 702 Huỳnh Văn Cừ, trước là Point Clear
- HQ 703 Nguyễn Đao, trước là Point Gammon
- HQ 704 Đào Thức, trước là Point Comfort
- HQ 705 Lê Ngọc Thanh, trước là Point Ellis
- HQ 706 Nguyễn Ngọc Thạch, trước là Point Slocum
- HQ 707 Đặng Văn Hoành, trước là Point Hudson
- HQ 708 Lê Đình Hùng, trước là Point White
- HQ 709 Trường Tiền, trước là Point Dume
- HQ 710 Phạm Ngọc Châu, trước là Point Arden
- HQ 711 Đào Văn Đặng, trước là Point Glover
- HQ 712 Lê Ngọc Ẩn, trước là Point Jefferson
- HQ 713 Huỳnh Văn Ngan ,trước là Point Kennedy
- HQ 714 Trần Lo ,trước là Point Young
- HQ 715 Bùi Viết Thành ,trước là Point Partridge
- HQ 716 Nguyễn An ,trước là Point Caution
- HQ 717 Nguyễn Hấn ,trước là Point Welcome
- HQ 718 Ngô Văn Quyền ,trước là Point Banks
- HQ 719 Vân Điền ,trước là Point Lomas
- HQ 720 Hồ Đăng La ,trước là Point Grace
- HQ 721 Đằm Thoại ,trước là Point Mast
- HQ 722 Huỳnh Bộ ,trước là Point Grey
- HQ 723 Nguyễn Kim Hưng ,trước là Point Orient
- HQ 724 Hồ Duy ,trước là Point Cypress
- HQ 725 Trương Ba ,trước là Point Monroe
-
-
TT 61 tấn KT 25.00 x 5.19 x 1.75 VT 17 knots TD 8/10 người VK 1/12.7 mm mortar 81 mm Máy 2 dầu cặn G M / Mercedes Benz ; 2 chân vịt; 1900 ngựa
-
- HQ-?? Chi Lang ,trước là PC-1144
- HQ-02 Van Kiêp ,trước là PC-1130
- HQ-03 ???????? ,trước là PC-1167
- HQ-04 Tuy Dong ,trước là PC-1143
- HQ-05 Tay Cây ,trước là PC-1146
- HQ-06 Van Don ,trước là PC-1569
-
-
TT 300/450 tấn KT 54.76 x 7.01 x 5.59 VT 20.2 knots TD 65 người VK 1/76 mm 1/40 mm 5/20 mm Máy 2 dầu cặn General Motors 16-278A ; 2 chân vịt; 2 x 2880 ngựa
-
Giang pháo hạm [sửa]
- HQ-228 Đoàn Ngọc Tang ,trước là LSSL-9
- HQ-229 Lưu Phú Thọ ,trước là LSSL-101
- HQ-230 Nguyễn Ngọc Long ,trước là LSSL-96
- HQ-231 Nguyễn Đức Bóng ,trước là LSSL-129
- HQ-327 Long Dao ,trước là LSIL-698
- HQ-328 Thần Tiên ,trước là LSIL-702
- HQ-329 Thiên Kích ,trước là LSIL-887
- HQ-330 Loi Cong ,trước là LSIL-699
- HQ-331 Tam Sat ,trước là LSIL-871
-
-
TT 250 tấn KT 48.80 x 7.10 x 1.75 VT 14 knots TD 5+50 người VK 1/40 mm 2/20 mm mortar 81 mm Range 5000 miles / 12 knots Máy 2 dầu cặn ; 2 chân vịt; 1600 ngựa
-
Hải vận hạm [sửa]
- HQ-400 Hat Giang ,trước là USS LSM-335
- HQ-401 Han Giang ,trước là USS LSM-110
- HQ-402 Lam Giang ,trước là USS LSM-226
- HQ-403 Ninh Giang ,trước là USS LSM-85
- HQ-404 Hương Giang ,trước là USS LSM-175
- HQ-405 Tiền Giang ,trước là USS LSM-313
- HQ-406 Hậu Giang ,trước là USS LSM-276
- HQ-??? ??? Giang ,trước là USS LSM-355
- HQ-??? ??? Giang ,trước là USS LSM-58
- (HQ-400 và HQ-401 được chuyển lại thành tàu bịnh viện vào năm 1966)
-
-
TT 520/743/1045 tấn KT 63.40 x 11.90 x 4.17 VT 13.2 knots TD 60 người VK 1/40 mm 4/20 mm Range 4900 miles / 12 knots Máy 2 dầu Fairbanks Morse; 2 chân vịt; 2 x 1440 ngựa
-
Dương vận hạm [sửa]
- HQ-500 Cam Ranh , trước là USS Marion County, LST-975
- HQ-501 Đà Nẵng , trước là USS Maricopa County, LST-938
- HQ-502 Thị Nại , trước là USS Cayuga County, LST-529
- HQ-503 Vũng Tàu , trước là USS Coconino County, LST-603
- HQ-504 Qui Nhơn , trước là USS Bulloch County, LST-509
- HQ-505 Nha Trang , trước là USS Jerome County, LST-848
-
-
TT nhẹ 1625/nặng 3640 tấn KT 100 x 15.25 x 4.52 VT 12 knots TD 110 người VK 8/40 mm Máy 2 dầu General Motors 12-567; 2 chân vịt;
-
- 27 LCU (HQ-533 đến 599) trước là LSU-1502,1594,1476,1480 ...
-
-
TT 180 tấn KT 35.50 x 10.36 x 1.85 VT 10 knots TD 5+50 người VK 2/20 mm Máy 3 dầu cặn ; 675 ngựa
-
Tuần giang đỉnh (river patrol boat) [sửa]
- 107 PCF/Swift duyên tốc đỉnh
-
-
TT 16 tấn KT 15.60 x 4.12 x 1.50 VT 25 knots TD 1+7 người VK 3/12.7 mm mortar 81 mm Máy Gray 12 V-721dầu ; 2 chân vịt; 960 ngựa
-
- 293 PBR duyên tốc đỉnh
-
-
TT 18 tấn KT 9.45 x 3.20 x 0.35 VT 20/22 knots TD 1+4 người VK 3/12.7 mm mortar 81 mm Máy GM dầu ; 2 jets; 2 x 220 ngựa
-
- 84 ASPB tiểu vận đỉnh
-
-
TT 29 tấn KT 15.27 x 4.64 x 1.14 VT 14 knots TD 6 người VK 1/20 mm 2/7.6 mm mortar 81 mm Máy Detroit Mk12 V-71 dầu ; 2 chân vịt; 850 ngựa
-
Trợ chiến hạm (logistic support) [sửa]
- HQ-800 Mỹ Tho , trước là USS Harnett County, AGP-821
- HQ-801 Cần Thơ , trước là USS Garrett County, AGP-786
-
-
TT nhẹ 1625/nặng 4080 tấn KT 100 x 15.25 x 4.30 VT 10 knots VK 40 mm - 2 trực thăng UH-1 Máy dầu cặn General Motors; 2 chân vịt; 1700 ngựa
-
- HQ-802 Vĩnh Long , trước là USS Satyr, ARL-23
-
-
TT 3700 tấn tiêu chuẩn KT 99.85 x 15.25 x 4.36 VT 10 knots Máy dầu cặn; 2 chân vịt; 1800 ngựa
-
- RVNS ? (HQ-470), trước là l'Aulne, YOG-80, sà lan chở dầu
- RVNS ? (HQ-471), trước là YOG-33, sà lan chở dầu
- RVNS ? (HQ-472), trước là YOG-67, sà lan chở dầu
- RVNS ? (HQ-473), trước là YOG-71, sà lan chở dầu
- RVNS ? (HQ-474), trước là YOG-131, sà lan chở dầu
- RVNS ? (HQ-475), trước là YOG-56, sà lan chở dầu
Bảng tham chiếu danh từ tàu chiến Hải quân Việt Nam Cộng hòa [sửa]
| Hải quân VNCH | Hải quân Hoa Kỳ | Viết tắt |
|---|---|---|
| Khu trục hạm | Destroyer Escort and Ricket | DER |
| Tuần dương hạm | White High Endurance Cutter | WHEC |
| Hộ tống hạm | Patrol Craft Escort | PCE |
| Giang pháo hạm | Landing Ship Infantry Light | LSIL |
| Trợ chiến hạm | Landing Ship Support Large | LSSL |
| Tuần duyên hạm | Patrol Gunboat Motor | PGM |
| Dương vận hạm | Landing Ship Tank | LST |
| Yểm trợ hạm | Auxiliary General Purpose | AGP |
| Cơ xưởng hạm | Landing Craft Repair Ship | ARL ? |
| Hải vận hạm | Landing Ship Medium | LSM |
| Bệnh viện hạm | Landing Ship Medium Hospital | LSMH |
| Hỏa vận hạm | Yard Oiler Gunship | YOG |
| Thực vận hạm | Refrigerated Covered Lighter | YFR ? |
| Duyên vận hạm | Utility Boat 100 Feet | UB 100 ft |
| Giang vận hạm | Landing Craft Utility | LCU |
| Giang vận hạm | Harbor Utility Craft | YFU ? |
| Trục vớt hạm | Salvage Light Lift Craft | YLLC ? |
| Kiểm báo hạm | Lights Ship | WLV ? |
| Tuần duyên đĩnh | Patrol Boat | WPB ? |
| Duyên tốc đĩnh | Patrol Craft Fast | PCF |
| Duyên kích đĩnh | Coastal Raider/Ferro Cement | CR/FC |
Tham khảo [sửa]
- Combat Fleets of the World 1976/1977, edited by Jean Labayle Couhat, ISBN 085368 410 3