Murakami Haruki

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Haruki Murakami)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Murakami. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Murakami Haruki

Murakami Haruki tại Lễ trao giải Jerusalem năm 2009
Sinh 12 tháng 1, 1949
Kyoto, Nhật Bản
Công việc Nhà văn
Dịch giả
Quốc gia Nhật Bản
Thể loại siêu thực, hiện thực
Tác phẩm nổi bật Lắng nghe gió hát
Rừng Na Uy
Biên niên ký chim vặn dây cót
Kafka bên bờ biển
1Q84
Vợ/chồng Murakami Yōko

Murakami Haruki (Tiếng Nhật: 村上 春樹, âm Hán Việt: Thôn Thượng Xuân Thụ)[1], sinh năm 1949 tại Kyoto và hiện đang sống ở Boston, Mỹ, là một trong những tiểu thuyết gia, dịch giả văn học người Nhật Bản được biết đến nhiều nhất hiện nay cả trong lẫn ngoài nước Nhật. Từ thời điểm nhận giải thưởng Nhà văn mới Gunzo năm 1979 đến nay, hơn một phần tư thế kỷ hoạt động và viết lách, tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 38 thứ tiếng trên thế giới[2], đồng thời trong nước ông là người luôn tồn tại ở tiền cảnh sân khấu văn học Nhật Bản. Murakami đã trở thành hiện tượng trong văn học Nhật Bản đương đại với những mĩ danh "nhà văn được yêu thích", "nhà văn best-seller", "nhà văn của giới trẻ".[3]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Murakami sinh ngày 12 tháng 1 năm 1949 tại Kyoto, nhưng lớn lên tại thành phố Nishinomiya và thành phố Ashiya ở tỉnh Hyogo. Ông nội của ông là một nhà sư[4]; ông ngoại của ông là một thương gia ở Osaka. Bố và mẹ ông đều là giáo viên môn Văn học Nhật Bản[5].

Từ nhỏ, Murakami đã chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa phương Tây, đặc biệt là âm nhạc và văn học. Ông lớn lên cùng với hàng loạt tác phẩm của các nhà văn Mỹ như Kurt VonnegutRichard Brautigan, và sự ảnh hưởng của phương Tây chính là đặc điểm giúp mọi người phân biệt ông với những nhà văn Nhật khác.[6] Văn học Nhật thường chú trọng đến vẻ đẹp ngôn từ, do đó có thể khiến cho khả năng diễn đạt bị giới hạn và trở nên cứng nhắc, trong khi phong cách của Murakami tương đối thoáng đạt và uyển chuyển.

Murakami học về nghệ thuật sân khấu tại Đại học Waseda, Tokyo. Ở đó, ông đã gặp được Yoko, người sau này là vợ ông. Ban đầu ông làm việc trong một cửa hàng băng đĩa, nơi mà một trong những nhân vật chính của ông trong tác phẩm Rừng Na Uy, Watanabe Toru, đã làm việc. Một thời gian ngắn trước khi hoàn thành việc học, Murakami mở một tiệm cà phê chơi nhạc jazz có tên "Peter Cat" tại Kokubunji, Tokyo[7], ông quản lý nó từ năm 1974 đến 1982. Nhiều tiểu thuyết của ông lấy bối cảnh âm nhạc và nhan đề đề cũng nói đến một bản nhạc nào đó, gồm có Dance, Dance, Dance (của ban nhạc The Steve Miller), Rừng Na Uy của The Beatles)' và Phía nam biên giới, phía tây mặt trời (ghép từ nhan đề một bài hát South of the Border và mượn ý lại của một bài hát khác East of the Sun).

A Wild Sheep Chase (1982), ấn bản bìa mềm của Vintage

"Bộ ba Chuột"[sửa | sửa mã nguồn]

Murakami viết tác phẩm đầu tay của ông khi ông 29 tuổi. Ông nói rằng ông đột ngột nảy ra ý tưởng viết bộ tiểu thuyết đầu tay của mình (Lắng nghe gió hát, 1979) khi đang xem một trận bóng chày. Vào năm 1978, Murakami đang ngồi xem trận đấu bóng chày giữa hai đôi Yakult Swallows và Hiroshima Carp ở Sân vận động Jingu thì cầu thủ người Mỹ Dave Hilton lên đánh. Theo như những lời đồn đoán thì khi Hilton đánh được trái thứ hai, Murakami bỗng nhận ra mình có khả năng sẽ viết được một câu chuyện.[8] Ông về nhà và bắt đầu viết truyện ngay tối hôm đó. Murakami viết tác phẩm này trong khoảng vài tháng do ban ngày ông phải làm việc tại quán bar (dẫn đến những câu văn rời rạc, thất thường trong những chương ngắn). Sau khi hoàn thành, ông gửi cuốn tiểu thuyết đến một cuộc thi văn học duy nhất chấp nhận tác phẩm ngắn cũng như vậy, và giành được giải nhất. Thậm chí trong tác phẩm đầu tay này, rất nhiều yếu tố căn bản tạo nên những tác phẩm sau này của Murakami cũng đã thành hình: phong cách phương Tây, kiểu hài hước thâm thúy, và nỗi nhớ quê hương sâu sắc.

Thành công ban đầu của cuốn Lắng nghe gió hát khuyến khích ông tiếp tục theo đuổi sự nghiệp cầm bút. Một năm sau đó, ông xuất bản cuốn Pinball, 1973, phần tiếp theo của cuốn đầu. Vào năm ông xuất bản Săn cừu hoang, một thành công nữa về mặt phê bình, sử dụng lại những yếu tố không tưởng và một cốt truyện mang tính kết thúc. Lắng nghe gió hát, Pinball, 1973, và Săn cừu hoang tạo thành "Bộ ba Chuột" (phần tiếp theo của bộ truyện, Dance, Dance, Dance, sau đó cũng được viết nhưng không được xem là một phần của loạt truyện này), trung tâm là người dẫn chuyện vô danh và bạn anh tên là "Chuột". Tuy nhiên, hai tiểu thuyết đầu không được xuất bản ra nước ngoài bằng tiếng Anh, mà chỉ có bản tiếng Anh dành cho sinh viên tiếng Anh. Theo Murakami (Publishers Weekly, 1991), ông cho rằng hai tiểu thuyết đầu tay của ông là "yếu", và không định dịch chúng sang tiếng Anh. Săn cừu hoang là "cuốn đầu tiên tôi cảm nhận một sự xúc động, một niềm vui khi kể câu chuyện. Khi bạn đọc một câu chuyện hay, bạn cứ ngấu nghiến đọc. Khi tôi viết một câu chuyện hay, tôi viết ngấu nghiến".

Được công nhận rộng rãi[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1985 ông viết cuốn Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, một câu chuyện tưởng tượng mơ mộng dựa vào những yếu tố huyền ảo, đưa tác phẩm của ông lên một tầm cao mới.

Murakami tạo được một sự đột phá mạnh mẽ và sự thừa nhận tại Nhật vào năm 1987 với tác phẩm Rừng Na Uy, một câu chuyện viết về thời quá khứ đầy mất mát và dục tình. Tác phẩm đã bán được hàng triệu bản trong giới trẻ Nhật, khiến Murakami trở thành một dạng "siêu sao" tại Nhật Bản (trong sự bất ngờ của ông). Cuốn sách được in thành hai tập, bán chung với nhau, khiến cho số lượng sách bán ra tăng gấp đôi so với thực tế, trở thành cuốn sách bán chạy nhất (bestseller) với hàng triệu bản. Một cuốn có bìa xanh lá, còn cuốn kia màu đỏ. Vào năm 1986, Murakami rời Nhật Bản, đi du lịch qua các nước Châu Âu, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ.

Murakami là giảng viên văn tại Đại học PrincetonPrinceton, New Jersey, và tại Đại học TuftsMedford, Massachusetts.[9]. Trong thời gian này ông viết Nhảy, Nhảy, NhảyPhía nam biên giới, Phía tây mặt trời.

Thành đạt[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1994/1995 ông xuất bản Biên niên ký chim vặn dây cót. Tiểu thuyết này hợp nhất khuynh hướng hiện thực và tưởng tượng, và chứa đựng cả yếu tố bạo lực. Nó cũng được xã hội chú ý rộng rãi hơn các tác phẩm trước đây, do nó liên quan đến đề tài nhạy cảm về tội ác chiến tranhMãn Châu (Mãn Châu Quốc). Biên niên ký chim vặn dây cót giúp ông đoạt Giải Yomiuri, người trao giải cho ông là một trong những người phê bình ông gay gắt nhất, Oe Kenzaburo, người đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1994.[10]

Những chấn thương tâm lý trở thành chủ đề chính trong tác phẩm của Murakami giai đoạn này, vấn đề khi đó vẫn được xem là riêng tư. Trong khi ông đang hoàn thành cuốn Biên niên ký chim vặn dây cót, thì Nhật Bản rung động trong vụ động đất ở KobeVụ tấn công bằng khí ga của Aum Shinrikyo, ông đã trở về Nhật Bản sau khi vụ đó diễn ra. Ông đề cập đến những sự kiện này trong tác phẩm hiện thực đầu tiên của ông, Đường xe điện ngầm, và tập hợp những câu truyện ngắn Sau cơn động đất. Đường xe điện ngầm phần lớn là những cuộc phỏng vấn các nạn nhân trong vụ tấn công bằng khí ga ở hệ thống tàu điện ngầm Tokyo. Dù thủ phạm và sự kiện đứng đằng sau vụ tấn công không phải là chủ đề chính mà cuốn sách nói tới, nhưng bức tranh xã hội Nhật Bản mà Murakami vẽ nên khiến cho người đọc sửng sốt.

Bản dịch tiếng Anh các truyện ngắn của ông viết trong khoảng năm 1983 đến 1990 tập hợp trong The Elephant Vanishes (Con voi biến mất). Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của F. Scott Fitzgerald, Raymond Carver, Truman Capote, John Irving, và Paul Theroux, v.v. sang tiếng Nhật.

Vào năm 2006, Murakami trở thành nhân vật thứ sáu nhận Giải Franz Kafka của Cộng hòa Séc cho tác phẩm Kafka bên bờ biển.[cần dẫn nguồn] Murakami nói với phóng viên, "Theo một cách nào đó, đọc những tác phẩm của Franz Kafka là một sự khởi đầu cho nghiệp văn của tôi". Hai người nhận giải Kafka trước Murakami vào năm 2004 và 2005 đều đã đoạt giải Nobel Văn học. Murakami cũng đã được đánh giá là ứng cử viên cho giải Nobel.

Vào tháng 9 năm 2007, ông nhận bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Liège[11]. Năm 2009 ông đoạt Giải Jerusalem.

Các tác phẩm gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm Người tình Sputnik được xuất bản lần đầu tiên năm 1999. Kafka bên bờ biển được xuất bản năm 2002. Vào cuối năm 2005, Murakami đã xuất bản tập truyện ngắn có nhan đề Tōkyō Kitanshū (東京奇譚集, Tokyo Kỳ Đàm Tập). Một tập truyện ngắn bằng tiếng Anh với 24 truyện ngắn, nhan đề Blind Willow, Sleeping Woman (Cây liễu mù, người đàn bà ngủ), được xuất bản vào tháng 8 năm 2006. Tập truyện này bao gồm những tác phẩm từ thập niên 1980 cũng như một số truyện ngắn gần đây nhất của ông (gồm cả năm truyện trong Tōkyō Kitanshū).

Murakami vừa rồi đã xuất bản một hợp tuyển có tên Những câu chuyện sinh nhật, trong đó gồm những truyện ngắn lấy bối cảnh là những buổi sinh nhật của Russell Banks, Ethan Canin, Raymond Carver, David Foster Wallace, Denis Johnson, Claire Keegan, Andrea Lee, Daniel Lyons, Lynda Sexson, Paul Theroux, và William Trevor, cũng như một câu chuyện đặc biệt được chính Murakami viết.

Tháng 2 năm 2013, ông thông báo tiểu thuyết đầu tiên trong 3 năm kể từ 1Q84 sẽ được phát hành vào tháng 4.[12] Ngày 12 tháng 4, cuốn sách được chính thức phát hành với tên Shikisai wo motanai Tazaki Tsukuru, kare no junrei no toshi (nghĩa là "Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương"). Ban đầu cuốn sách được cho in 300.000 bản nhưng với số lượng đơn đặt hàng tăng cao, Bungeishunju, nhà xuất bản cuốn sách đã phải nâng số bản in lên nửa triệu bản, phá kỷ lục lượng bản in đầu của bất cứ cuốn sách nào.[13] Đây cũng là cuốn sách đầu tiên của Murakami Haruki có tên tiếng Anh chính thức Colorless Tsukuru Tazaki and His Years of Pilgrimage.

Phê bình và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Những tiểu thuyết của Murakami, thường bị những tổ chức văn học Nhật Bản chỉ trích là văn học "bình dân", thường hài hước và mang tính siêu thực, cùng một lúc phản ánh sự ham muốn, nỗi cô đơn, và khao khát tình yêu khiến độc giả khắp Hoa Kỳ, Châu Âu cũng như Đông Á phải xúc động[cần dẫn nguồn]. Hơn nữa, những tác phẩm của Murakami cũng bị chỉ trích do cách mô tả của ông về sự ám ảnh tư bản của Nhật Bản. Thông qua tác phẩm của mình, ông có thể nắm bắt được cảm giác trống rỗng về linh hồn của những con người cùng thế hệ với ông và khám phá ra những tác động tiêu cực của tâm lý hướng về công việc của Nhật Bản. Tác phẩm của ông phê bình sự suy giảm trong giá trị người phụ nữ và sự mất mát mối quan tâm giữa con người với nhau trong xã hội tư bản nước Nhật.

Vào năm 2006, Murakami trở thành người thứ sáu giành Giải thưởng Franz Kafka, giải mà trước đó đã trao cho người đạt Giải Nobel Văn học Harold PinterElfriede Jelinek. Chính Murakami cũng đã được xem là một tiềm năng cho giải Nobel. Nếu được nhận giải, ông sẽ trở thành người Nhật thứ ba, sau Kawabata YasunariOe Kenzaburo.

Murakami được trao Giải thưởng Kiriyama dành cho Tiểu thuyết năm 2007 với tập truyện ngắn Cây liễu mù, người đàn bàn ngủ nhưng, theo Trang web chính thức của Kiriyama, Murakami "đã từ chối nhận giải vì lý do cá nhân".

Murakami bị chúc mừng nhầm vì tưởng đã đoạt Giải Nobel Văn học năm 2006 trên trang chủ của thư viện phố ở quê nhà Ashiya của ông, nhưng đó là lỗi ở thư viện[14].

Bộ phim và Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1981, bộ phim Nhật Lắng nghe gió hát (tiếng Nhật: 風の歌を聴け Kaze no uta wo kike), đạo diễn: Ōmori Kazuki, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên.[15]
  • 1982, phim ngắn Nhật Tập kích tiệm bánh mì (tiếng Nhật: パン屋襲撃 Panya shūgeki), đạo diễn: Yamakawa Naoto, dựa trên truyện ngắn "Tái tập kích tiệm bánh mì".[16]
  • 1983, phim ngắn Nhật Cô Gái 100% (tiếng Nhật: 100%の女の子, tiếng Anh chính thức: A Girl, She Is 100%), đạo diễn Yamakawa Naoto, dựa trên truyện ngắn "Chuyện gặp cô gái 100% vào một sáng tháng Tư đẹp trời".[17]
  • 1988, bộ phim Nhật Phía bên kia khu rừng (tiếng Nhật: 森の向う側 Mori no mukōgawa), đạo diễn: Nomura Keichi, dựa trên truyện "Chú chó nhỏ của cô gái trong lòng đất".[18]
  • 2004, bộ phim Nhật Toni Takitani (tiếng Nhật: トニー滝谷 Tonī Takitani), đạo diễn Ichikawa Jun, chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên.[19]
  • 1998, bộ phim Đức Der Eisbaer (Gấu Bắc cực), kịch bản và đạo diễn: Granz Henman sử dụng nhiều yếu tố của truyện ngắn "Tái tập kích tiệm bánh mì".[20]
  • 2008, bộ phim Mĩ All God's Children Can Dance, đạo diễn: Robert Logevall, chuyển thể từ truyện ngắn "Tất cả các con của Thượng Đế đều nhảy múa".[21]
  • 2010, phim ngắn Mĩ và Mexico The Second Bakery Attack, đạo diễn: Carlos Cuaron, có sự tham gia của Kirsten Dunst cũng chuyển thể từ truyện ngắn "Tái tập kích tiệm bánh mì".[22]
  • 2010, bộ phim Rừng Na Uy (tiếng Nhật: ノルウェイの森 Noruwei no mori), đạo diễn: Trần Anh Hùng, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên.[23]

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Murakami cũng đã được chuyển thể sang sân khấu, vào năm 2003 với vở kịch có tên Con voi biến mất, đồng hợp tác giữa công ty Complicite của Anh và Sân khấu Công cộng Setagaya của Nhật. Vở kịch do đạo diễn Simon McBurney đạo diễn, đã sử dụng lại ba câu truyện ngắn của Murakami và nhận được lời hoan nghênh do sự pha trộn đặc sắc các hình thức đa phương tiện (videom nhạc và sản phẩm có dây khác).[24] Trong chuyến lưu diễn, vở kịch đã được trình diễn bằng tiếng Nhật, và được phụ đề cho khán giả Châu Âu và Mỹ.

Trong album nhạc Songs from Before của Max Richter vào năm 2006, Robert Wyatt đã đọc một đoạn trong tiểu thuyết của Murakami.

Những câu nói đáng chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

Những câu nói đáng chú ý của Murakami Haruki được trích dẫn lại đây là những câu trả lời phỏng vấn từ Trần Tiễn Cao Đăng qua email[25], với hàm ý dành riêng cho độc giả Việt Nam nhân dịp nhiều tác phẩm của ông vừa được xuất bản bằng tiếng Việt:

  • Tôi thích rượu vang Pháp. Nhưng chẳng ai bảo rằng vì vậy mà tôi chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa Pháp. Tôi vẫn là một tiểu thuyết gia Nhật Bản, không gì khác. Tôi không nghĩ đấy là điều gì lạ lùng, sai lạc, kỳ quặc, trái khoáy, phi tự nhiên hay đáng thẹn. Một số nhà phê bình hay học giả phương Tây cứ có cái thói hễ văn chương châu Á thì cứ phải là đặc thù châu Á. Chẳng có lý do gì tôi phải thỏa mãn cái lối nhìn rập khuôn của họ. Cái mà tôi muốn mô tả trong tác phẩm của tôi là những con người. Tôi gọi họ là "những con người của tôi". Có thể diễn dịch rằng ấy là "người Nhật" mà cũng có thể diễn dịch họ là con người nói chung.
  • Tôi không nghĩ mình là nhà văn hậu hiện đại, mặc dù nếu bạn gọi tôi bằng cái tên đó thì tôi không phản đối. Nói thật, người ta gọi tôi là gì tôi cũng chẳng quan tâm. Theo ý tôi, tôi chỉ là người kể chuyện. Một người kể chuyện khá cừ, chắc vậy. Tôi cho rằng trên thế giới có hai loại tiểu thuyết gia: tiểu thuyết gia đầy cảm hứng và tiểu thuyết gia thường. Bạn cũng đoán được rồi đó, tôi muốn mình là loại thứ nhất.
  • Tôi chẳng mấy quan tâm đến bất kỳ giải thưởng nào. Giải thưởng đích thực của tôi là độc giả, những độc giả đang mong chờ tác phẩm kế tiếp của tôi. Tôi rất trân trọng sự quan tâm và thủy chung của họ. Tôi đã nỗ lực suốt nhiều năm trời để nắm được tư tưởng họ, tâm hồn họ, và dường như tôi đã nắm được tư tưởng, tâm hồn độc giả, nhiều độc giả.
  • Đến năm 29 tuổi tôi mới bắt đầu viết[26]. Trước thời gian đó tôi chẳng có gì để viết. Đôi khi bạn phải sống cuộc đời của chính mình cho hết sức hết lòng, hết mực chân thành, sau đó bạn mới tìm thấy một cái gì đó của riêng mình để viết.

Các tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Nhật Tên tiếng Việt1
1979 風の歌を聴け
Kaze no uta wo kike
Lắng nghe gió hát
1980 1973年のピンボール
1973-nen no pinbōru
Pinball, 1973
1982 羊をめぐる冒険
Hitsuji o meguru bōken
Cuộc săn cừu hoang
1985 世界の終りとハードボイルド・ワンダーランド
Sekai no owari to hādoboirudo wandārando
Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới
1987 ノルウェイの森
Noruwei no mori
Rừng Na Uy
1988 ダンス・ダンス・ダンス
Dansu dansu dansu
Nhảy nhảy nhảy
1992 国境の南、太陽の西
Kokkyō no minami, taiyō no nishi
Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời
1992-1995 ねじまき鳥クロニクル
Nejimaki-dori kuronikuru
Biên niên ký chim vặn dây cót
1999 スプートニクの恋人
Supūtoniku no koibito
Người tình Sputnik
2002 海辺のカフカ
Umibe no Kafuka
Kafka bên bờ biển
2004 アフターダーク
Afutā Dāku
Sau nửa đêm
2005 東京奇譚集
Tōkyō Kitanshū
Hợp tuyển Bí ẩn Tokyo
2009 1Q84 1Q84
2013 色彩を持たない多崎つくると、彼の巡礼の年
Shikisai wo motanai Tazaki Tsukuru to, kare no junrei no toshi
Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương

1 Trừ các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam đã có tên tiếng Việt chính thức, nhan đề các tác phẩm còn lại là tạm dịch.

Truyện ngắn chọn lọc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Nhật Tên tiếng Việt2 Nằm trong
1980 中国行きのスロウ・ボート
"Chūgoku-yuki no surou bōto"
"Thuyền hàng đi Trung Quốc" Con voi biến mất
貧乏な叔母さんの話
"Binbō na obasan no hanashi"
"Chuyện bà cô nghèo khó" Cây liễu mù, cô gái ngủ
1981 ニューヨーク炭鉱の悲劇
"Nyū Yōku tankō no higeki"
"Bi kịch mỏ than New York"
スパゲティーの年に
"Supagetī no nen ni"
"Năm Spaghetti"
四月のある晴れた朝に100パーセントの女の子に出会うことについて
"Shigatsu no aru hareta asa ni 100-paasento no onna no không ni deau koto ni tsuite"
"Chuyện gặp cô gái 100% vào một sáng tháng Tư đẹp trời" Con voi biến mất
かいつぶり
"Kaitsuburi"
"Chim lặn" Cây liễu mù, cô gái ngủ
カンガルー日和
"Kangarū-biyori"
"Một ngày tuyệt vời của Kangaroo"
カンガルー通信
"Kangarū tsūshin"
"Thông báo Kangaroo" Con voi biến mất
1982 午後の最後の芝生
"Gogo no saigo no shibafu"
"Vườn cỏ buổi chiều cuối cùng"
1983
"Kagami"
"Cái gương" Cây liễu mù, cô gái ngủ
とんがり焼の盛衰
"Tongari-yaki no seisui"
"Thăng trầm của bánh nướng nhọn mỏ"

"Hotaru"
"Đom đóm"
納屋を焼く
"Naya wo yaku"
"Đốt nhà kho" Con voi biến mất
1984 野球場
"Yakyūjō"
"Sân bóng chày" Cây liễu mù, cô gái ngủ
嘔吐1979
"Ōto 1979"
"Buồn nôn 1979"
ハンティング・ナイフ
"Hantingu naifu"
"Dao săn"
踊る小人
"Odoru kobito"
"Người lùn nhảy múa" Con voi biến mất
1985 レーダーホーゼン
"Rēdāhōzen"
"Quẩn cộc kiểu Đức"
パン屋再襲撃
"Panya saishūgeki"
"Tái tập kích tiệm bánh mì"
象の消滅
"Zō no shōmetsu"
"Con voi biến mất"
ファミリー・アフェア
"Famirī afea"
"Chuyện trong nhà"
1986 ローマ帝国の崩壊・一八八一年のインディアン蜂起・ヒットラーのポーランド侵入・そして強風世界
"Rōma-teikoku no hōkai・1881-nen no indian hōki・Hittorā no pōrando shinnyū・soshite kyōfū sekai"
"Sự sụp đổ của Đế chế La mã, Khởi nghĩa Ấn Độ 1881, Cuộc xâm lăng Ba Lan của Hitler, và Thế giới cuồng phong"
ねじまき鳥と火曜日の女たち
"Nejimaki-dori to kayōbi no onnatachi"
"Chim vặn dây cót và phụ nữ ngày thứ Ba"
1989 眠り
"Nemuri"
"Buồn ngủ"
TVピープルの逆襲
"TV pīpuru no gyakushū"
"Mặt trái của người làm truyền hình"
飛行機―あるいは彼はいかにして詩を読むようにひとりごとを言ったか
"Hikōki-arui wa kare wa ika ni shite shi wo yomu yō ni hitorigoto wo itta ka"
"Máy bay: Hoặc, anh ta tự nói chuyện như ngâm thơ như thế nào" Cây liễu mù, cô gái ngủ
我らの時代のフォークロア―高度資本主義前史
"Warera no jidai no fōkuroa-kōdo shihonshugi zenshi"
"Truyển thuyết dân gian của thời đại chúng tôi - Chủ nghĩa tư bản cao độ"
1990 トニー滝谷
"Tonī Takitani"
"Tony Takitani"
1991 沈黙
"Chinmoku"
"Trầm mặc" Con voi biến mất
緑色の獣
"Midori-iro no kemono"
"Quái thú màu xanh"
氷男
"Kōri otoko"
"Người đàn ông băng" Cây liễu mù, cô gái ngủ
人喰い猫
"Hito-kui neko"
"Mèo ăn thịt người"
1995 めくらやなぎと、眠る女
"Mekurayanagi to, nemuru onna"
"Cây liễu mù, cô gái ngủ"
1996 七番目の男
"Nanabanme no otoko"
"Người đàn ông thứ bảy"
1999 UFOが釧路に降りる
"UFO ga kushiro ni oriru"
"Đĩa bay đáp xuống Kushiro" Sau cơn động đất
アイロンのある風景
"Airon no aru fūkei"
"Một phong cảnh của Airon"
神の子どもたちはみな踊る
"Kami no kodomotachi wa mina odoru"
"Tất cả các con của Thượng Đế đểu nhảy múa"
タイランド
"Tairando"
"Thái Lan"
かえるくん、東京を救う
"Kaeru-kun, Tōkyō wo sukū"
"Cậu Ếch cứu Tokyo"
2000 蜂蜜パイ
"Hachimitsu pai"
"Bánh mật ông"
2002 バースデイ・ガール
"Bāsudei gāru"
"Cô gái sinh nhật" Cây liễu mù, cô gái ngủ
2005 偶然の旅人
"Gūzen no tabibito"
"Du khách ngẫu nhiên"
ハナレイ・ベイ
"Hanarei Bei"
"Vịnh Hanalei"
どこであれそれが見つかりそうな場所で
"Doko de are sore ga mitsukarisō na basho de"
"Nơi tôi có thể tìm thấy"
日々移動する腎臓のかたちをした石
"Hibi idō suru jinzō no katachi wo shita ishi"
"Viên đá hình cật di chuyển mỗi ngày"
品川猿
"Shinagawa saru"
"Con khỉ Shinagawa"
2011  — Thị trấn mèo (Trích đoạn từ1Q84) (The New Yorker, 5 tháng 9, 2012) [3]
2013  — Đi bộ đến Kobe (Granta, số 124, Hè 2013)
恋するザムザ
"Koisuru Zamuza"
Samsa yêu (The New Yorker, 28 tháng 10, 2013) [4] 恋しくて
"Koishikute"
ドライブ・マイ・カー: 女のいない男たち
"Drive My Car: Onna no Inai Otokotachi" [27]
Lái xe của tôi: Những thằng đàn ông thiếu vắng đàn bà

Phi hư cấu[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt2 Tiếng Nhật
Năm Tựa đề Năm Tựa đề
__ Trời mưa, trời nắng 1990 雨天炎天
"Uten Enten"
__ Chân dung nhạc jazz 1997 ポ-トレイト・イン・ジャズ
"Pōtoreito in jazu"
__ Ngầm 19971998 アンダーグラウンド
"Andāguraundo"
__ Chân dung nhạc jazz 2 2001 ポ-トレイト・イン・ジャズ 2
"Pōtoreito in jazu 2"
2011 Tôi nói gì khi nói về chạy bộ 2007 走ることについて語るときに僕の語ること
"Hashiru koto ni tsuite kataru toki ni boku no kataru koto"
__ Nếu không có nghĩa thì cũng chẳng có điệu swing 2008 意味がなければスイングはない
"Imi ga nakereba suingu wa nai"
__ Tôi nói chuyện với ông Ozawa Seiji về âm nhạc 2011 小澤征爾さんと, 音楽について話をする
"Ozawa Seiji-san to, Ongaku ni Tsuite Hanashi wo Suru"

2 Các tác phẩm chỉ là tạm dịch, chỉ có các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam thì tên mới chính xác

Các bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Rừng Na Uy, Hạnh Liên và Hải Thanh dịch theo bản tiếng Anh của Alfred Birnbaum, Bùi Phụng hiệu đính, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997.
  • Rừng Na Uy, Trịnh Lữ dịch theo bản tiếng Anh của Jay Rubin, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006.
  • Biên niên ký chim vặn dây cót, Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006
  • Phía Nam biên giới, Phía Tây mặt trời, Cao Việt Dũng dịch theo bản tiếng Pháp có tham khảo bản gốc và bản tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.
  • Kafka bên bờ biển, Dương Tường dịch theo bản tiếng Anh có tham khảo bản tiếng Pháp, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2007.
  • Sau nửa đêm, Nhà xuất bản Công an Nhân Dân, 2007
  • Truyện ngắn Murakami Haruki, nghiên cứu và phê bình, Hoàng Long tuyển dịch và giới thiệu, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006.
  • Người tình Sputnik, Ngân Xuyên dịch theo bản tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008
  • Ngầm, Trần Đĩnh dịch, Nhã Nam và Nhà xuất bản Sài Gòn, 2009
  • Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Lê Quang dịch, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010
  • Nhảy Nhảy Nhảy, Trần Vân Anh dịch theo bản tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2011
  • 1Q84 (trọn bộ 3 tập), Lục Hương dịch theo bản tiếng Hoa, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2012
  • Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương, Uyên Thiểm (Lương Việt Dũng) dịch, Nhã Nam phát hành 2014

Các tập truyện ngắn do Phạm Vũ Thịnh dịch và Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành:

  • Ngày đẹp trời để xem Kangaroo (18 truyện)
  • Đom đóm
  • Sau cơn động đất
  • Người Ti-vi (14 truyện)
  • Bóng ma ở Lexington (14 truyện)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khi nhận giải Gunzo lần thứ 22 năm 1979, theo tin của báo chí thì người nhận giải là Haruki nhưng Haruki viết Kanji là "Xuân Kỷ", trong khi đó tạp chí Gunzo cùng năm lại ghi Haruki là "Xuân Thụ", có thể trong thời gian rất ngắn ông dùng bút danh Xuân Kỷ còn Xuân Thụ là tên thật.
  2. ^ Theo lời nhận định của chính tác giả trong trả lời phỏng vấn của Trần Tiễn Cao Đăng (tiếng Anh). Murakami Haruki cũng cho biết không có khả năng theo dõi các bản dịch có tốt không, ngoại trừ bản tiếng Anh được ông xem khá kỹ
  3. ^ Murakami Haruki - hiện tượng cùng thời đại, OOI Kouchi (ký giả Ban văn nghệ Báo Mainichi), kỷ yếu hội thảo Thế giới của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto, tháng 3 năm 2007.
  4. ^ Tandon, Shaun (27 tháng 3 năm 2006). “The loneliness of Haruki Murakami”. iAfrica. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. . Ở Nhật Bản, một số tông phái Phật giáo vẫn cho phép tu sĩ của mình kết hôn
  5. ^ Naparstek, Ben (24 tháng 6 năm 2006). “The lone wolf”. The Age. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  6. ^ Gewertz, Ken (1 tháng 12 năm 2005). “Murakami is explorer of imagination”. Harvard Gazette. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  7. ^ Kyoto Sangyo University wiki
  8. ^ Grossekathöfer, Maik (20 tháng 2 năm 2008). “When I Run I Am in a Peaceful Place”. Spiegel. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  9. ^ Brown, Mick (15 tháng 8 năm 2003). “Tales of the unexpected”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2008. 
  10. ^ “Haruki Murakami congratulated on Nobel Prize - only, he hadn’t won it”. Japan News Review. 5 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  11. ^ “Presse et Communication”. Université de Liège. 5 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  12. ^ “Murakami’s first novel in 3 years to be published in April - AJW by The Asahi Shimbun”. Ajw.asahi.com. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2013. 
  13. ^ “Publisher prints record first run of new Murakami book”. Asahi Shimbun. 11 tháng 4 năm 2013. 
  14. ^ Japan News Review, Haruki Murakami congratulated on Nobel Prize - but he hadn't won it, 2007-07-05
  15. ^ “Kazuki Omori”. Internet Movie Database. 2008. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008. 
  16. ^ “Panya shugeki”. Internet Movie Database. 2008. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2008. 
  17. ^ “A Girl, She Is 100 Percent”. Internet Movie Database. 2013. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2013. 
  18. ^ http://www.imdb.com/title/tt1876396/
  19. ^ Chonin, Neva (2 tháng 9 năm 2005). “Love turns an artist's solitude into loneliness”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  20. ^ http://theater2.nytimes.com/mem/theater/treview.html?res=9801E2DA1F3AF930A15754C0A9629C8B63. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  21. ^ http://www.imdb.com/title/tt0847214/
  22. ^ “The Second Bakery Attack”. Internet Movie Database. 2010. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2013. 
  23. ^ Hànộimới ngày 01 tháng 12 năm 2010, "Trần Anh Hùng kể chuyện "Rừng Na Uy" bằng hình ảnh".
  24. ^ [1][2]
  25. ^ Trích đăng lại từ Kỷ yếu hội thảo Thế giới của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto tổ chức ở Việt Nam.
  26. ^ Thực tế tác giả đã từng có tiểu thuyết xuất bản từ năm 1973, tức năm 23 tuổi, có lẽ ý của tác giả ở đây là cầm bút thực sự với văn nghiệp,
  27. ^ “Haruki Murakami gets back to the Beatles in new short story”. The Guardian. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kỷ yếu hội thảo Thế giới của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto, Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam–Nhật Bản (VJCC), Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam và, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam tổ chức. Tháng 3 năm 2007.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phỏng vấn[sửa | sửa mã nguồn]