Kim Yuna

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kim Yu-Na
김연아
Kim 2010 OP Press.jpg

Kim Yu-Na tại Thế vận hội mùa đông năm 2010.

Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ: Kim Yu-Na
Kim Yeon-a
Nơi sinh: Bucheon, Gyeonggi-do
Nơi cư trú: Toronto, Canada
Chiều cao: 164cm (5ft 4in)
Medal record
Đối thủ cạnh tranh cho  Hàn Quốc


Olympic mùa đông
Vàng Olympic mùa đông năm 2010 Vancouver Đơn nữ
Giải vô địch thế giới
Vàng Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2013London Đơn nữ
Bạc Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2011Moscow Đơn nữ
Bạc Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2010Turin Đơn nữ
Vàng Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2009Los Angeles Đơn nữ
Đồng Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2008 Gothenburg Đơn nữ
Đồng Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2007 Tokyo Đơn nữ
Giải vô địch bốn châu lục
Vàng Giải vô địch bốn châu lục năm 2009 Vancouver Đơn nữ
Grand Prix Final
Vàng 2009-2010 Grand Prix Tokyo Đơn nữ
Bạc 2008-2009 Grand Prix Goyang Đơn nữ
Vàng 2007-2008 Grand Prix Torino Đơn nữ
Vàng 2006-2007 Grand Prix St. Petersburg Đơn nữ
Thành tích Huy chương Olympic
Trượt băng nghệ thuật nữ
Đối thủ cạnh tranh cho  Hàn Quốc


Vàng Olympic mùa đông năm 2010 Vancouver Trượt băng nghệ thuật tại Olympic mùa đông năm 2010 – Đơn nữ

Kim Yu-Na (Hangul: 김연아, Hanja: 金姸兒); sinh ngày 5 tháng 9 năm 1990 tại Bucheon, Gyeonggi-do, là một vận động viên trượt băng nghệ thuật người Hàn Quốc.

Cô là nhà vô địch đơn nữ tại Olympic mùa đông năm 2010, vô địch thế giới năm 2009, vô địch giải bốn châu lục năm 2009, ba lần giành vô địch Grand Prix Final (2006–2007, 2007–2008, 2009–2010), vô địch giải trẻ thế giới năm 2006, vô địch Junior Grand Prix Final (2005–2006), và bốn lần giành chức vô địch giải quốc gia Hàn Quốc (2002–2005).

Kim là vận động viên trượt băng nghệ thuật đầu tiên của Hàn Quốc có huy chương tại một sự kiện Trẻ của ISU hay Senior Grand Prix, Giải vô địch ISU, hay Olympic. Cô là một trong những vận động viên và nhân vật truyền thông được đánh giá cao nhất tại Hàn Quốc.[1]

Tới thời điểm tháng 3 năm 2010, Kim được Liên đoàn Trượt băng Quốc tế (ISU) xếp hạng nhất thế giới.[2] Cô cũng đang giữ kỷ lục nữ môn short program,[3] free skating[4] và tổng cộng[5] theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Cô là vận động viên trượt băng nghệ thuật nữ đầu tiên vượt qua 200 điểm[5] theo Hệ thống Xếp hạng ISU.

Năm 2009 và 2010 cô được tạp chí Forbes bình chọn là Người nổi tiếng ảnh hưởng nhất Hàn Quốc. Năm 2011 và 2012 cô lọt top 5 và năm 2013 cô lọt top 10.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Yuna
Hangul 김연아
Hanja (Hán tự) 金姸兒
Hán-Việt Kim Nghiên Nhi
Romaja quốc ngữ Gim Yeona[6]
McCune-Reischauer Kim Yŏna

Kim sinh ra tại Bucheon, Gyeonggi-do, và chuyển tới Gunpo năm lên sáu tuổi. Tháng 3 năm 2007, cô sang Toronto, Ontario, Canada để tập luyện với Brian Orser. Năm 2009, Kim được ghi danh vào Đại học Hàn Quốc[7] như một sinh viên đặc cách, dù vẫn đang tiếp tục tập luyện tại Canada.

Cách đánh vần chuẩn tên cô là Kim Yeon-A. Tuy nhiên, khi xin cấp hộ chiếu, cô định viết tên mình là Yun-a, nhưng người nhân viên thực hiện đã viết nhầm tên cô là Yu-na. Theo các kí tự Hangeul, Yu-na được đánh vần đúng là "유나" chứ không phải là "연아."[8]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Kim bắt đầu trượt băng từ năm lên 7. Huấn luyện viên của cô ở thời điểm đó, Ryu Jong-Hyeon, rất ấn tượng với tài năng của Kim, đề nghị mẹ cô nên để cô tiếp tục tập luyện, dự đoán rằng Kim sẽ trở thành một vận động viên trượt băng nghệ thuật tầm cỡ quốc tế trong tương lai.[9]

Năm 2002, cô lần đầu tiên tham gia tranh tài trên đấu trường quốc tế tại Triglav Trophy, nơi cô giành huy chương vàng giải dành cho những người mới bắt đầu. Một năm sau, ở tuổi 12, cô giành danh hiệu chuyên nghiệp tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật Hàn Quốc, trở thành vận động viên trẻ tuổi nhất đạt danh hiệu này. Cô giành chiến thắng trong lần thứ hai tham gia thi tài quốc tế tại Golden Bear of Zagreb, một giải cũng cho những người mới khởi đầu. Cô tiếp tục là vận động viên vô địch Hàn Quốc năm 2004.

Sự nghiệp trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 2004–2005[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2004–2005, với tư cách một vận động viên trẻ, Kim tham gia tranh tài tại ISU Junior Grand Prix, một giải trẻ phụ của ISU Grand Prix of Figure Skating. Cô giành huy chương bạc ở Trung Quốc và huy chương vàng tại Hungary. Cô giành một huy chương bạc tại 2005 Junior Grand Prix Final với tổng số điểm 137.75 points, 30.80 điểm kém hơn người đoạt huy chương vàng Asada Mao.

Cô vẫn giữa được danh hiệu Vô địch quốc gia trong năm thứ ba liên tiếp trước khi tham gia Giải vô địch trượt băng nghệ thuật trẻ thế giới năm 2005. Tại cuộc thi này, cô một lần nữa giành huy chương bạc, với 158.93 điểm, 20.31 điểm kém hơn người về nhất là Mao Asada.

Mùa 2005–2006[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải năm 2005–2006, Kim không đủ tuổi để tham gia thi tài tại Thế vận hội mùa đông năm 2006, thậm chí khi Hàn Quốc được trao chỗ tại cuộc thi chung kết 2005 Karl Schäfer Memorial.

Thay vào đó, cô tham gia thi đấu tại 2005–2006 Junior Grand Prix và giành chiến thắng trong cả hai lần ở BulgariaSlovakia. Tại 2006 Junior Grand Prix Final, cô giành chiến thắng với 28.34 hơn người đoạt huy chương bạc Aki Sawada. Trong bài thi tự do, cô thực hiện bảy lần nhảy xoay ba vòng, gồm cả một cú nhảy kết hợp "nhảy bay ba vòng - triple toe loop" và một cú nhảy kết hợp "double axel - triple toe loop".

Kim giành giải vô địch quốc gia thứ tư liên tiếp. Tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật trẻ quốc tế năm 2006, cô một lần nữa đối đầu với Mao Asada và giành huy chương vàng với tổng số 177.54 điểm, với khoảng cách sít sao 24.19 điểm với Asada.

Chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa 2006–2007[sửa | sửa mã nguồn]

Kim và Brian Orser tại 2007-2008 Grand Prix Final.

Để chuẩn bị cho sự khởi đầu chuyên nghiệp trong mùa giải 2006–2007, Kim tập thường xuyên tại Toronto Cricket, Skating and Curling ClubToronto, Canada trong mùa hè năm 2006. Cô luyện tập dưới sự chỉ đạo của huần luyện viên Brian Orser và biên đạo múa David Wilson.

Kim khởi đầu sự nghiệp chuyên nghiệp tại 2006 Skate Canada nơi cô giành một huy chương đồng sau khi đã được xếp hạng nhất nội dung short program và hạng tư nội dung tự do với tổng số điểm 168.48. Cô giành 2006 Trophée Eric Bompard với số điểm 184.54, 10.10 điểm nhiều hơn người giành huy chương bạc Ando Miki. Những kết quả này giúp Kim lần đầu tiên được tham dự Grand Prix Final. Tại 2006 Grand Prix FinalSt. Petersburg, Nga, Kim được xếp hạng ba nội dung short program với 65.06 điểm và hạng nhất nội dung long program với 119.14 điểm. Cô giành chiến thắng tại Grand Prix Final với 184.20 điểm, hơn 11.68 điểm so với người giành huy chương bạc là Mao Asada.

Kim buộc phải rút lui vì chấn thương tại Giải vô địch Hàn Quốc năm 2006–2007 và không thể bảo vệ ngôi vô địch. Tháng 1 năm 2007, Kim được chẩn đoán đang ở giai đoạn đầu của chứng thoát vị đĩa đệm lưng (L4~L5).[10]

Kim được lựa chọn để thi tài tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2007 với những màn trình diễn của cô trong mùa giải. Vì việc lựa chọn Choi Ji Eun một năm trước đó, Hàn Quốc chỉ có một chỗ tại Giải vô địch thế giới. Trong thời gian Giải vô địch thế giới tại Tokyo, Nhật Bản, Kim giành chiến thắng nội dung với 71.95 điểm, lập kỷ lục điểm nội dung short program cao nhất từ khi có Hệ thống Xếp hạng ISU, và vì thế cũng là một kỷ lục thế giới.[11] Cô xếp hạng tư ở nội dung long program với 114.19 điểm, và kết thúc cuộc thi ở vị trí thứ ba với 186.14 điểm sau Ando Miki và Asada Mao của Nhật. Vị trí của Kim giúp Hàn Quốc có được hai xuất nữ tham gia Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2008.[12] Kim là vận động viên trượt băng nghệ thuật nữ duy nhất với kĩ thuật triple-triple combination của mình được các trọng tài công nhận trong cả nội dung short và tự do mùa giải 2006-2007 season.

Tháng 3 năm 2007, Brian Orser trở thành huấn luyện viên riêng của cô. Hài lòng với môi trường huấn luyện tại Toronto, Kim quyết định tập luyện thường xuyên tại đây. Sau đó đội huấn luyện viên của cô bao gồm Brian Orser, Astrid Shrubb, David WilsonTracy Wilson.[1]

Mùa 2007–2008[sửa | sửa mã nguồn]

Kim khởi đầu mùa giải 2007–2008 với chiến thắng tại "2007 Cup of China" với tổng số điểm 180.68, 24.34 điểm nhiều hơn người giành huy chương bạc Caroline Zhang. Tại "2007 Cup of Russia", Kim giành chiến thắng ở cả nội dung short program với 63.50 điểm và tự do với 133.70 điểm, để về nhất tổng thể với 197.20 điểm, 24.43 điểm hơn người về nhì là Yukari Nakano, lập một kỷ lục thế giới về số điểm nội dung tự do theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Cô đã thực hiện một triple flip-triple toe loop combination, một triple loop, một triple lutz-double toe loop combination, một double axel-triple toe loop combination, một triple lutz, một triple salchow và double axel.[13]

Cô đạt đủ điểm để được tham gia vào "2007–2008 Grand Prix of Figure Skating Final" tại Torino, Italia. Cô giành chiến thắng nội dung short program với 64.62 điểm và xếp hạng nhì nội dung tự do với 132.21 điểm. Với tổng số điểm 196.83, Kim lần thứ hai giành chức vô địch Grand Prix Final.

Cô không tham gia 'Giải vô địch Quốc gia Hàn Quốc năm 2007–2008" và rút lui khỏi "Giải vô địch bốn lục địa năm 2008" một tuần trước khi sự kiện này diễn ra vì chấn thương. Với tình trạng đau lưng dai dẳng, cô tham gia thi đấu tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2008. Cô được xếp hạng năm nội dung short program với 59.85 điểm, nhưng đạt điểm cao ở nội dung tự do với 123.38 điểm. Cô tổng cộng giành được 183.23 điểm, và lần thứ hai liên tiếp đoạt Huy chương đồng tại "Giải vô địch Thế giới".

Mùa 2008–2009[sửa | sửa mã nguồn]

Kim trình diễn bài thi nội dung short program với tựa đề Danse Macabre tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2009.

Kim được cử tham gia 2008 Skate America2008 Cup of China Grand Prix trong mùa giải 2008–2009 ISU Grand Prix.

Tại 2008 Skate America, Kim đứng đầu nội dung short program với số điểm 69.50, với cách biệt 11.70 điểm so với người thứ hai dù đã mắc một lỗi ở động tác double axel.[14] Cô giành danh hiệu vô địch nữ với thắng lợi ở nội dung tự do với điểm số 123.95. Tổng cộng cô giành 193.45 điểm, nhiều hơn 20 điểm so với người đoạt huy chương bạc là Nakano Yukari người Nhật.

Cô tiếp tục thành công tại 2008 Cup of China, với 63.64 điểm ở nội dung short program và 128.11 điểm nội dung tự do, đứng đầu ở cả hai nội dung. Tổng số điểm của cô là 191.75 cao hơn gần 21 điểm so với người đoạt huy chương bạc là Miki Ando người Nhật. Màn trình diễn của cô giúp Kim có được suất tham gia 2008–2009 Grand Prix Final.

Tại 2008–2009 Grand Prix Final, được tổ chức ở Goyang, Hàn Quốc, cô được xếp đầu ở nội dung short program với 65.94 điểm và thứ hai ở nội dung tự do với 120.41 điểm. Với tổng số 186.35 điểm, cô đứng thứ hai kém hơn 2.20 điểm so với Asada Mao của Nhật.

Kim tham gia thi đấu tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật bốn châu lục năm 2009. Cô lập một kỉ lục thế giới mới với 72.24 điểm ở nội dung short program[15] trong cuộc thi với một màn trình diễn hoàn hảo. Cô giành 116.83 điểm ở nội dung tự do, dẫn đầu với tổng số 189.07 điểm và giành huy chương vàng.

Tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2009, cô lại ập một kỉ lục thế giới mới với 76.12 điểm tại nội dung short program, vượt qua kỉ lục trước đó của mình bốn điểm.[16] Cô đã thực hiện một triple flip-triple toe loop combination, một triple lutz và một double axel. Cô cũng chiến thắng ở nội dung tự do, ghi được 131.59 điểm và cho thấy một khả năng trình diễn tuyệt hảo với tài năng và khả năng thẩm âm của mình. Và đã lập một kỉ lục thế giới mới với tổng số 207.71 điểm và lần đầu tiên giành danh hiệu Vô địch Thế giới và trở thành vận động viên trượt băng nghệ thuật nữ đầu tiên vượt quá 200 điểm[17] tính theo Hệ thống Xếp hạng ISU. Khoảng cách điểm với người đứng thứ hai, Joannie Rochette, là 16.42. Cô là vận động viên duy nhất giành được tám điểm ở cả nội dung short program và tự do tại cuộc thi.[18][19] Kim là vận động viên nữ duy nhất có triple-triple combination được các trọng tài công nhận tại cả nội dung short program và tự do trong mùa giải 2008–2009.[20][21]

Mùa 2009–2010[sửa | sửa mã nguồn]

Kim trình diễn nội dung short program tựa đề 007 James Bond Medley tại 2009 Trophée Eric Bompard.

Kim tham gia 2009 Trophée Eric Bompard và 2009 Skate America trong mùa giải 2009–2010 ISU Grand Prix.

Tại Trophée Eric Bompard năm 2009, cô đứng đầu nội dung short program với số điểm 76.08, 16.44 cao hơn Yukari Nakano. Cô thực hiện thành công một triple lutz-triple toe loop combination, tiếp đó là một triple flip và một double axel. Mở màn với một triple lutz-triple toe loop combination và thể hiện trình độ nghệ thuật hoàn hảo, và cô giành số điểm nội dung tự do là 133.95. Cô cũng thực hiện một double axel-double toe loop-double loop, một double axel-triple toe loop, một triple salchow, một triple lutz và một double axel. Cô giành chiến thắng giải này với 210.03 điểm, 36.04 cao hơn người giành huy chương bạc là Mao Asada. Kim lập các kỉ lục thế giới về số điểm nội dung tự do và tổng điểm theo Hệ thống Xếp hạng ISU tại giải này.[22]

Tại Skate America năm 2009, Kim một lần nữa xếp hạng nhất nội dung short program với số điểm 76.28, 17.48 điểm hơn người đứng sau là Rachael Flatt. Cô được nhận +2.20 cấp độ trình diễn cho lutz jump-triple toe loop combination của mình,[23] số điểm cao nhất từng có cho những cú nhảy trong nội dung trượt băng nghệ thuật nữ của ISU. Cô xếp thứ hai ở nội dung tự do với 111.70 điểm vì các lỗi trong các cú nhảy. Dù đó là một trong những điểm số thấp nhất của cô, cô vẫn chiến thắng giải với 187.98 điểm, đánh bại người đoạt huy chương bạc là Rachael Flatt với 13.07 điểm. Tại giải đấu, cô một lần nữa lập một kỷ lục thế giới mới ở nội dung short program theo Hệ thống Xếp hạng ISU.[24]

Các chiến thắng của cô tại cả hai Grand Prix khiến cô được tham gia 2009–2010 Grand Prix Final ở Tokyo, Nhật Bản, tháng 12 năm 2009. Tại giải này, cô đứng hạng hai nội dung short program với 65.64 điểm, 0.56 điểm sau Miki Ando. Ngày hôm sau cô chiến thắng ở nội dung tự do với 123.22 điểm. Nhờ thế, Kim lần thứ ba giành danh hiệu vô địch Grand Prix Final với tổng số 188.86 điểm.

Olympic mùa đông năm 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Kim với chiếc huy chương vàng tại Pacific Coliseum, Vancouver, BC, 25 tháng 2 năm 2010.

Kim tham gia nội dung đơn nữ tại Olympic mùa đông năm 2010, được tổ chức tại Vancouver, British Columbia, Canada.

Trong phần trình diễn nội dung short program ngày 23 tháng 2, cô đã thực hiện một triple lutz-triple toe loop combination, một triple flip và một double axel. Điểm kỹ thuật của cô đạt 44.70, cao nhất tại giải. Cô cũng nhận được những điểm rất cao về nội dung, với 33.80 điểm cho nghệ thuật trình diễn của mình. Vì thế Kim ghi được 78.50 điểm, dẫn đầu với 4.72 điểm vượt hơn Mao Asada của Nhật Bản và ghi được điểm số cao nhất của mình ở nội dung short program. Cô lập một kỷ lục thế giới mới.[25]

Ngày 25 tháng 2 cô giành chiến thắng nội dung tự do với 150.06 điểm, 18.34 nhiều hơn Asada, người về thứ hai ở nội dung này. Kim đã thực hiện một triple lutz-triple toe loop combination, một triple flip, một double axel-double toe loop-double loop combination, một double axel-triple toe loop combination, một triple salchow, một triple lutz và một double axel. Cộng với vẻ duyên dáng và khả năng thể hiện âm nhạc của mình, cả điểm kỹ thuật và điểm trình diễn của cô, 78.30 và 71.76 đều là cao nhất trong đêm đó. Cô là người duy nhất đạt được các điểm 9 cho program components.[26] Cô lập một kỷ lục thế giới mới ở nội dung tự do theo Hệ thống Xếp hạng ISU.[27] Tổng cộng, Kim ghi được 228.56 điểm, vượt qua kỷ lục tốt nhất trước đó của mình và cũng là kỷ lục thế giới cũ 18 điểm.[27] Cô giành huy chương vàng và trở thành vận động viên trượt băng nghệ thuật đầu tiên của Hàn Quốc đạt huy chương ở Olympic.

Mùa 2013–2014[sửa | sửa mã nguồn]

Kim dự giải 2013 Golden Spin of Zagreb tại Zagreb, Kroatia từ 5–8 tháng 12 2013. Cô đứng đầu short program với điểm 73.37 và cũng thắng luôn free program với 131.12 điểm, mặc dù đã té khi nhảy triple lutz. Cô đoạt được huy chương vàng với 204.02 điểm, hơn Miki Ando của Nhật Bản 27.67 điểm.[28][29][30]
Vào tháng hai 2014, Kim thi tại giải đơn nữ ở thế vân hội mùa Đông 2014, chỉ đoạt được huy chương bạc, mặc dù đã dẫn đầu ở short program. Kim sau đó nói, như nhiều người đã tiên đoán trước, là sẽ không tiếp tục thi đấu nữa. Không chỉ những người ái mộ cô không đồng ý với kết quả này. Katherina Witt, người 2 lần đoạt giải này tại thế vân hội 1984 và 1988 cho Đông Đức, và 4 lần vô địch thế giới, bình luận gia cho đài truyền hình ARD Đức, rất khó chịu, nói kết quả này làm cho môn thể thao này mang tiếng. Cùng ý kiến này có cả vô địch năm 1996 Todd Eldredge, Kurt Browning 4 lần vô địch thế giới, cũng như các báo chí quốc tế như tờ báo thể thao Pháp "L'Équipe", hay Ý "Corriere dello Sport".[31], [32]

Các kĩ thuật trượt băng[sửa | sửa mã nguồn]

Kim thực hiện "Yu-Na Spin" của mình tại buổi tập cho giải 2008-2009 Grand Prix Final.

Kim lần đầu tiên thực hiện nhảy xoay ba vòng năm 10 tuổi, lên 12 tuổi cô đã thực hiện được năm cú nhảy xoay ba vòng trong bài trình diễn của mình.[33] Năm 14 tuổi, cô lần đầu tiên thực hiện cú nhảy kết hợp triple-triple tại Giải vô địch trẻ thế giới năm 2005.[34]

Kim đã thực hiện ba cú nhảy kết hợp triple-triple khác nhau trong các giải đấu: một triple lutz-triple toe loop,[35] một triple flip-triple toe loop,[36] và một triple toe loop-triple toe loop.[37] Cô cũng có thể thực hiện một cú nhảy kết hợp triple lutz-double toe loop-double loop.[38] Cô đã nhận được +2.20 mức thực hiện cho các cú nhảy[23], và cũng nhận được mức thực hiện +2.00 cho spiral sequence của mình,[39][40] và cho các cú xoay của cô.[40]

Một trong những cách di chuyển đặc trưng của Kim là bent-leg layover camel spin, thường được gọi là "vòng xoay Yu-Na". Một đặc trưng khác là layback ina bauer mà cô dẫn trực tiếp vào một cú nhảy double axel, tới một cú nhảy kết hợp double axel-triple toe loop hay tới một cú nhảy kết hợp double axel-double toe loop-double loop.

Kim nổi tiếng vì kỹ thuật hoàn hảo, các cú nhảy cao, di chuyển trên khoảng cách rộng, tốc độ, trình độ nghệ thuật, phong cách âm nhạc, sự duyên dáng, và khả năng thẩm âm, và với những cú nhảy xa vì tốc độ bật cao của cô.

Người của công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Kim và Stéphane Lambiel tại Festa On Ice năm 2009.

Các nhà tài trợ chính thức của Kim là Nike, Kookmin Bank, SamsungHyundai Motor Company.[41]

Âm nhạc trượt băng và các bản nhạc ưa thích khác của cô đã được sưu tập trong album Yuna Kim ~ Fairy On ICE ~ Skating Music (Universal Music Korea, 2008).[42] Cô là ngôi sao biểu diễn của Festa On Ice năm 2008 và 2009, nơi xuất hiện của những vận động viên trượt băng nghệ thuật hàng đầu thế giới. IB Sports, cơ quan thông tấn của Kim, sản xuất màn trình diễn trên băng. IB Sports sản xuất một màn trình diễn trên băng khác, Ice All Stars 2009, diễn ra tại Seoul ngày 14–16 tháng 8 năm 2009. Michelle Kwan, thần tượng của Kim, cũng tham gia sự kiện.[43]

Kim cũng được chỉ định làm thiện chí cho Năm Du lịch Hàn Quốc 2010–2012.[44]

Kim đã xuất hiện trên nhiều chương trình thương mại ở Hàn Quốc. Cô đã ký một số hợp đồng thương mại và cũng hát trên một số chương trình TV đặc biệt. Việc cô tham gia quảng cáo cho máy tính cảm ứng Haptic technology mới của Samsung, được gọi là Yuna's Haptic (SPH-W7700), bắt đầu ở Hàn Quốc ngày 24 tháng 5 năm 2009.[45] Trong lĩnh vực thương mại, cô đóng vai trò là một ca sĩ nhạc rock, một thiếu nữ tuổi teen, và một tác giả giới thiệu nhiều tính năng của chiếc điện thoại.[46] Samsung Electronics đã bán hơn một triệu chiếc điện thoại trong thời gian kỉ lục là bảy tháng.[47]

Các bài trình diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Kim đang thực hiện bài trình diễn nội dung tự do The Lark Ascending tại 2006 Skate Canada.
Kim thực hiện nội dung tự do Piano Concerto in F tại 2009 Skate America.
Mùa Short Program Free Skating Exhibition
2009–2010
007 James Bond Medley
của Monty Norman, John Barry
David Arnold
nghệ thuật biểu diễn David Wilson

Piano Concerto in F
của George Gershwin
nghệ thuật biểu diễn David Wilson

Méditation
từ Thaïs
của Jules Massenet
nghệ thuật biểu diễn David Wilson




Don't Stop the Music
của Rihanna
nghệ thuật biểu diễn Sandra Bezic
2008–2009 Danse Macabre
của Camille Saint-Saëns
performed của Gil Shaham
nghệ thuật biểu diễn David Wilson
Scheherazade
của Nikolai Rimsky-Korsakov
nghệ thuật biểu diễn David Wilson


Gold
từ Camille Claudel
của Linda Eder
nghệ thuật biểu diễn David Wilson




Only Hope
từ A Walk to Remember
của Mandy Moore
nghệ thuật biểu diễn David Wilson


2007–2008 Die Fledermaus
của Johann Strauss II
nghệ thuật biểu diễn David Wilson
Miss Saigon
của Claude-Michel Schönberg
nghệ thuật biểu diễn David Wilson

Only Hope
từ A Walk to Remember
của Mandy Moore
nghệ thuật biểu diễn David Wilson




Once Upon a Dream
từ Jekyll and Hyde
của Linda Eder
nghệ thuật biểu diễn David Wilson




Just a Girl
của No Doubt
nghệ thuật biểu diễn David Wilson


2006–2007
El Tango de Roxanne
từ Moulin Rouge!
của Mariano Mores
Despertar
của Ástor Piazzolla
nghệ thuật biểu diễn Tom Dickson


The Lark Ascending
của Ralph Vaughan Williams
nghệ thuật biểu diễn David Wilson
Reflection
từ Mulan
của Christina Aguilera
nghệ thuật biểu diễn Brian Orser
2005–2006
El Tango de Roxanne
từ Moulin Rouge!
của Mariano Mores
Despertar
của Ástor Piazzolla
nghệ thuật biểu diễn Tom Dickson


Papa, Can You Hear Me?
từ Yentl
của Michel Legrand
trình diễn bởi Itzhak Perlman
nghệ thuật biểu diễn Jeffrey Buttle
và Jadene Fullen
One Day I'll Fly Away
từ Moulin Rouge!
của Nicole Kidman
nghệ thuật biểu diễn Kim Yu-Na
Kim Se-Yeol
2004–2005 Snowstorm
của Georgi Sviridov
nghệ thuật biểu diễn Catarina Lindgren

Papa, Can You Hear Me?
từ Yentl
của Michel Legrand
trình diễn bởi Itzhak Perlman
nghệ thuật biểu diễn Jeffrey Buttle
và Jadene Fullen


Ben
của Michael Jackson
nghệ thuật biểu diễn Kim Yu-Na
và Chi Hyun-Jung
2003–2004
Snowstorm
của Georgi Sviridov
nghệ thuật biểu diễn Catarina Lindgren


Carmen
của Georges Bizet
nghệ thuật biểu diễn Catarina Lindgren
2002–2003
Can-can
của Jacques Offenbach
nghệ thuật biểu diễn Catarina Lindgren


Carmen
của Georges Bizet
nghệ thuật biểu diễn Catarina Lindgren
2001–2002
Can-can
của Jacques Offenbach
nghệ thuật biểu diễn Catarina Lindgren


The Carnival of the Animals
của Camille Saint-Saëns
nghệ thuật biểu diễn Garnet

Các điểm nhấn sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Các kết quả thi đấu chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Kim (giữa) trên bục nhận giải thưởng tại Olympic mùa đông năm 2010.
Giải 2006–07 2007–08 2008–09 2009–10 2010–11 2012–13 2013–14
Olympic mùa đông 1 2
Giải vô địch thế giới 3 3 1 2 2 1
Giải vô địch bốn châu lục 1
Giải vô địch Hàn Quốc 1 1
Grand Prix Final 1 1 2 1
Skate America 1 1
Trophée Eric Bompard 1 1
Cup of China 1 1
Cup of Russia 1
Skate Canada International 3
Golden Spin, Zagreb 1
NRW Trophy 1

Các giải trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Giải 2001–02 2002–03 2003–04 2004–05 2005–06
Giải vô địch trẻ thế giới 2 1
Giải vô địch Hàn Quốc 1 J. 1 1 [48] 1 1
Junior Grand Prix 2 1
Junior Grand Prix, Bulgaria 1
Junior Grand Prix, Slovakia 1
Junior Grand Prix, Hungary 1
Junior Grand Prix, China 2
Golden Bear, Zagreb 1 N.
Triglav Trophy 1 N.
  • N = Mới tham gia
  • J = Trẻ

Chi tiết kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Kim với chiếc huy chương vàng tại Giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới năm 2009.
Mùa giải 2009–2010
Ngày Giải SP FS Tổng
22 – 28 tháng 3 năm 2010 Giải vô địch thế giới ISU năm 2010 7
60.30
1
130.49
2
190.79
14 – 27 tháng 2 năm 2010 Olympic mùa đông năm 2010 1
78.50
1
150.06
1
228.56
3 – 6 tháng 12 năm 2009 2009-2010 ISU Grand Prix Final 2
65.64
1
123.22
1
188.86
12 – 15 tháng 11 năm 2009 2009 ISU Grand Prix Skate America 1
76.28
2
111.70
1
187.98
15 – 18 tháng 10 năm 2009 2009 ISU Grand Prix Trophée Eric Bompard 1
76.08
1
133.95
1
210.03
Mùa giải 2008–2009
Ngày Giải SP FS Tổng
23 – 29 tháng 3 năm 2009 Giải vô địch thế giới ISU năm 2009 1
76.12
1
131.59
1
207.71
2 – 8 tháng 2 năm 2009 Giải vô địch bốn châu lục ISU năm 2009 1
72.24
3
116.83
1
189.07
10 – 14 tháng 12 năm 2008 2008-2009 ISU Grand Prix Final 1
65.94
2
120.41
2
186.35
6 – 9 tháng 11 năm 2008 2008 ISU Grand Prix Cup of China 1
63.64
1
128.11
1
191.75
23 – 26 tháng 10 năm 2008 2008 ISU Grand Prix Skate America 1
69.50
1
123.95
1
193.45
Mùa giải 2007–2008
Ngày Giải SP FS Tổng
17 – 23 tháng 3 năm 2008 Giải vô địch thế giới ISU năm 2008 5
59.85
1
123.38
3
183.23
13 – 16 tháng 12 năm 2007 2007-2008 ISU Grand Prix Final 1
64.62
2
132.21
1
196.83
22 – 25 tháng 11 năm 2007 2007 ISU Grand Prix Cup of Russia 1
63.50
1
133.70
1
197.20
8 – 11 tháng 11 năm 2007 2007 ISU Grand Prix Cup of China 3
58.32
1
122.36
1
180.68
Mùa giải 2006–2007
Ngày Giải SP FS Tổng
19 – 25 tháng 3 năm 2007 Giải vô địch thế giới ISU năm 2007 1
71.95
4
114.19
3
186.14
14 – 17 tháng 12 năm 2006 2006-2007 ISU Grand Prix Final 3
65.06
1
119.14
1
184.20
16 – 19 tháng 11 năm 2006 2006 ISU Grand Prix Trophée Eric Bompard 1
65.22
1
119.32
1
184.54
2 – 5 tháng 11 năm 2006 2006 ISU Grand Prix Skate Canada 1
62.68
4
105.80
3
168.48
  • SP = Short program; FS = Free skating
  • Các kỷ lục cá nhân in đậm

Trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2005–2006
Ngày Giải Mức QR SP FS Tổng
6 – 12 tháng 3 năm 2006 Giải vô địch trẻ thế giới ISU năm 2006 Trẻ 1
107.52
1
60.86
1
116.68
1
177.54
5 – 8 tháng 1 năm 2006 Giải vô địch Quốc gia Hàn Quốc năm 2006 Chuyên nghiệp - 1
61.44
1
104.08
1
165.52
24 – 27 tháng 11 năm 2005 2005-2006 ISU Junior Grand Prix Final Trẻ - 1
57.51
1
116.61
1
174.12
29 tháng 9 - 2 tháng 10 anưm 2005 2005 ISU Junior Grand Prix, Bulgaria Trẻ - 1
53.45
1
99.98
1
153.43
1 – 4 tháng 9 năm 2005 2005 ISU Junior Grand Prix, Slovakia Trẻ - 1
58.63
1
110.20
1
168.83
Mùa giải 2004–2005
Ngày Giải Mức QR SP FS Tổng
28 tháng 2 - 6 tháng 3 năm 2005 Giải vô địch trẻ thế giới ISU năm 2005 Trẻ 1
102.98
6
48.67
2
110.26
2
158.93
1 – 4 tháng 1 năm 2005 Giải vô địch Quốc gia Hàn Quốc năm 2005 Chuyên nghiệp - 1 1 1
1.5
2 – 5 tháng 12 năm 2004 2004-2005 ISU Junior Grand Prix Final Trẻ - 2
51.27
3
86.48
2
137.75
16–19 tháng 9 năm 2004 2004 ISU Junior Grand Prix, Hungary Trẻ - 1
47.23
1
101.32
1
148.55
1 – 5 tháng 9 năm 2004 2004 ISU Junior Grand Prix, China Trẻ - 4
38.87
1
92.35
2
131.22
Mùa giải 2003–2004
Ngày Giải Mức QR SP FS Tổng
2 – 5 tháng 2 năm 2004 Giải vô địch Quốc gia Hàn Quốc năm 2004 Chuyên nghiệp - 1 1 1
1.5
Mùa giải 2002–2003
Ngày Giải Mức QR SP FS Tổng
8 – 11 tháng 3 năm 2003 Giải vô địch Quốc gia Hàn Quốc năm 2003 Chuyên nghiệp - 1 1 1
1.5
  • QR = Vòng xếp hạng; SP = Short program; FS = Free skating

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Yu-Na Kim: The Best is Yet to Come”. International Figure Skating. Tháng 12 năm 2007. 
  2. ^ “Current ISU World Standings”. International Skating Union. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  3. ^ “ISU Judging System Statistics, Progression of Highest Score, Ladies SP”. International Skating Union. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  4. ^ “ISU Judging System Statistics, Progression of Highest Score, Ladies FS”. International Skating Union. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  5. ^ a ă “ISU Judging System Statistics, Progression of Highest Score, Ladies Total Score”. International Skating Union. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  6. ^ “Romanization of Korean”. The National Institute of The Korean Language. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  7. ^ “Kim Yu-na Captures Skate America Title”. The Korea Times. 27 tháng 10 năm 2008. 
  8. ^ “[단독] 김연아 이름은 3가지?...영문표기의 비밀” (bằng tiếng Triều Tiên). 
  9. ^ “김연아 "남 의식하기보단 자발적인 노력의 힘" 연습벌레 근성이 성공의 발판.” (bằng tiếng Triều Tiên). Newsen. 18 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ “Skate Phenom Diagnosed With Hernia”. Donga.com. 4 tháng 1 năm 2007. 
  11. ^ “ISU World Figure Skating Championships 2007 Tokyo (JPN) Day 4”. International Skating Union. 23 tháng 3 năm 2007. 
  12. ^ “International Skating Union Communication No. 1469 Entries ISU Championships 2008”. International Skating Union. 
  13. ^ “2007 ISU Cup of Russia, Day 2 report”. International Skating Union. 24 tháng 11 năm 2007. 
  14. ^ “Kim surges to big lead after short at Skate America”. Icenetwork.com. 26 tháng 10 năm 2008. 
  15. ^ “Kim posts record SP score at Four Continents”. Icenetwork.com. 5 tháng 2 năm 2009. 
  16. ^ “Kim sets new standard in ladies short at worlds”. Icenetwork.com. 27 tháng 3 năm 2009. 
  17. ^ “Top-10 ladies moments of 2008-09”. Icenetwork.com. 
  18. ^ “2009 ISU World Figure Skating Championships, Ladies SP Scores”. International Skating Union. 
  19. ^ “2009 ISU World Figure Skating Championships, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 
  20. ^ “2009 ISU World Figure Skating Championships - Ladies SP judges details per skater”. International Skating Union. 
  21. ^ “2009 ISU World Figure Skating Championships - Ladies FS judges detais per skater”. International Skating Union. 
  22. ^ “Kim takes gold in record-breaking fashion”. Icenetwork.com. 17 tháng 10 năm 2009. 
  23. ^ a ă “2009 ISU GP Cancer.Net Skate America, Ladies SP Scores”. International Skating Union. 
  24. ^ “Kim's short has license to kill”. Icenetwork.com. 14 tháng 11 năm 2009. 
  25. ^ “Figure Skating: 'Bond girl' Kim ahead”. Vancouver 2010: Figure Skating. 23 tháng 2 năm 2010. 
  26. ^ “XXI Winter Olympic Games, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 26 tháng 2 năm 2010. .
  27. ^ a ă “Kim wins Olympic women's title”. Vancouver 2010: Figure Skating. 26 tháng 2 năm 2010. 
  28. ^ “Despite mixed performance, Kim Yu-na remains Olympic contender”. Yonhap News. 8 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  29. ^ “Figure Skating: Kim Yu-Na wins Golden Spin despite fall”. Channel News Asia. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  30. ^ “Figure Skating: Kim Yu-Na wins Golden Spin despite fall”. Olympic Talk. 6 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  31. ^ “Winter Olympics 2014: Yuna Kim hints at retirement after shock defeat to Russian Adelina Sotnikova”. telegraph. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014. 
  32. ^ “Kati Witt nach Gold für Russin "komplett fassungslos"”. Focus. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014. 
  33. ^ Song, Chang-Hoon (1 tháng 4 năm 2009). “Studying Yuna Kim”. Chosun Ilbo Blog. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2009. 
  34. ^ “2005 ISU World Junior Championships, Ladies QR Scores”. International Skating Union. 
  35. ^ “2005 ISU Junior Grand Prix Sofia Cup, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 
  36. ^ “2005 ISU Junior Grand Prix Final, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 
  37. ^ “2005 ISU World Junior Championships, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 
  38. ^ “2005 ISU Junior Grand Prix Slovakia, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 
  39. ^ “2008 ISU Cup of China, Ladies FS Scores”. International Skating Union. 
  40. ^ a ă “2009 ISU World Championships, Ladies SP Scores”. International Skating Union. 
  41. ^ Kim Yu-Na Official Website-PARTNERS
  42. ^ “Fairy on the Ice” (bằng tiếng Tiều Tiên). Music Aladdin. 2008. 
  43. ^ “Kwan to Join Yu-Na in Local Ice Show”. The Korea Times. 2 tháng 7 năm 2009. 
  44. ^ “Yu-Na Named Amb. of Visit Korea Year”. The Korea Times. 29 tháng 4 năm 2009. 
  45. ^ “Yu-Na Becomes Model for Handset CF”. The Korea Times. 10 tháng 5 năm 2009. 
  46. ^ “록커로 변신한 김연아” (bằng tiếng Triều Tiên). 해럴드경제. 22 tháng 5 năm 2009. 
  47. ^ “미 언론 '김연아폰' 신기록의 힘은...” (bằng tiếng Triều Tiên). Chosun Ilbo. 24 tháng 12 năm 2009. 
  48. ^ “The Nymph of Figure Skating Waits for August”. The Dong-A Ilbo. 10 tháng 2 năm 2004.  Có sự thông tin sai giữa ISU và Liên đoàn Hàn Quốc.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

small>của Michael Jackson small>của Michael Jackson