Thừa Thiên Cao Hoàng hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tống Thị Lan)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu
承天高皇后
Hoàng hậu Việt Nam
Hoàng hậu nhà Nguyễn
Tại vị 1806 - 1814
Tiền nhiệm Không có
Hoàng hậu đầu tiên nhà Nguyễn
Kế nhiệm Thuận Thiên Cao Hoàng hậu
Thông tin chung
Phu quân Nguyễn Thế Tổ
Gia Long hoàng đế
Hậu duệ
Tên đầy đủ Tống Phúc Lan (宋福蘭)
Tước hiệu Nguyên phi
Hoàng hậu
Thụy hiệu Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dục Chính Thuận Nguyên Cao hoàng hậu
承天佐聖厚德慈仁簡恭齊孝翼正順元高皇后
Hoàng tộc nhà Nguyễn
Thân phụ Tống Phúc Khuông
Thân mẫu Lê phu nhân
Sinh 1761
huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Mất 1814
Phú Xuân, Việt Nam
An táng Thiên Thọ Lăng (天授陵)

Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (chữ Hán: 承天高皇后, 1761 - 22 tháng 2, 1814), là hoàng hậu của Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế của triều đại nhà Nguyễn. Cùng với Nam Phương Hoàng hậu, bà là một trong 2 vị Hoàng hậu duy nhất của nhà Nguyễn được ban hiệu Hoàng hậu (皇后) khi còn sống.

Bà là người đoan chính, xinh đẹp, khi còn trẻ bà đã được Gia Long Đế đích thân đem lễ vật đến hỏi cưới bà. Lênh đênh theo vua từ lúc gian khó, có khi lại thúc trống giúp cứu Gia Long trong cơn nguy khốn. Khi Gia Long đi xa, bà vẫn giữ vật tin, một lòng một dạ đi theo ông. Nhưng bà số khổ, con cái đều có số chết sớm cả, khi chưa đầy 60 tuổi lại mất đi. Gia Long rất thương mà khóc thảm thiết, đặt mộ của bà kế bên của ông ở lăng Thiên Thọ chính là bằng chứng tình cảm của ông đối với bà, và cũng là vai trò to lớn của bà trong cuộc đời ông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa Thiên Cao Hoàng hậu có tên húy là Lan (蘭), có tên tự là Liên (蓮), sinh vào năm Tân Tỵ (1761)[1] thuộc dòng họ Tống Phúc thị (宋福氏) danh giá ở Tống Sơn, Thanh Hóa, là con gái thứ ba của Quý Quốc công Tống Phúc Khuông (宋福匡), mẹ là Quý Quốc phu nhân Lê thị.

Khi Phú Xuân bị quân chúa Trịnh đánh chiếm vào năm Giáp Ngọ (1774), bà theo cha vào Nam đến ở Gia Định. Năm Mậu Tuất (1778), bà được 18 tuổi, tiến cung rồi tấn phong làm Nguyên phi (元妃), rất được Thế Tổ Gia Long sủng ái.

Năm Quý Mão (1783) quân Tây Sơn đánh Gia Định, Thế Tổ Gia Long phải lánh ra Phú Quốc, được người Xiêm La đem thuyền đến đón. Trước khi sang Xiêm, Thế Tổ cho Hoàng tử Cảnh qua Pháp cầu viện. Ngài lại đem ra một dật vàng giao cho bà một nửa mà bảo rằng: "Con chúng ta đi rồi, ta cũng sẽ đi đây. Phi ở lại phụng thờ quốc mẫu, chưa biết sau này sẽ gặp nhau ở đâu và lúc nào, Phi cất vàng này làm của tin".

Năm Giáp Thìn (1784), Thế Tổ từ Xiêm trở về, bà rước Quốc mẫu ở lại đảo Phú Quốc. Mùa thu năm Mậu Thân (1788), khi Thế Tổ Gia Long lấy lại Gia Định, cho người đến Phú Quốc đón bà cùng Quốc mẫu trở về Gia Định. Từ đây, mỗi khi hoàng đế đi đánh giặc, bà thường đi theo.

Năm Gia Long thứ 2 (1803), bà được lập làm Vương hậu. Đến năm Bính Dần (1806), bà được lập làm Hoàng hậu.

Ngày 22 tháng 2 năm 1814, Hoàng hậu qua đời, thọ 53 tuổi, quan tài để ở điện Khôn Nguyên. Qua năm sau bà được an táng tại Thiên Thọ LăngHuế. Được ban thụy hiệu là Giản Cung Tề Hiến Đức Chính Thuận Nguyên hoàng hậu (簡恭齊孝翼正順元皇后), bấy giờ đều gọi bà là Thuận Nguyên hoàng hậu (順元皇后). Về sau khi Thế Tổ Gia Long qua đời, huyệt phần của ông ngay bên cạnh bà, khác với các Hoàng hậu khác đều có lăng riêng trong quần thể, Thuận Nguyên hoàng hậu được an táng ngay kế bên Thế Tổ Gia Long.

Tháng 6 năm Canh Thìn (1820), tôn thụy là Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dục Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu (承天佐聖厚德慈仁簡恭齊孝翼正順元高皇后).

Năm Nhâm Ngọ (1822), thần chủ của bà được rước vào thờ ở Thế Miếu, ở bên tả thần chủ của Thế Tổ. Bà còn được thờ ở điện Phụng Tiên trong Hoàng thành và điện Minh Thành ở lăng Thiên Thọ.

Đức tính[sửa | sửa mã nguồn]

Thế Tổ tri kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là người thân hậu, cần kiệm, biết thương yêu tất cả mọi người. Bà từ khi gặp lại Gia Long từ Xiêm về, luôn ở bên vua kể cả trên chiến trường, tựa như nàng Ngu Cơ luôn ở bên Hạng Vũ đời Hán vậy.

Trong lúc bôn ba nơi gian hiểm, bà tự tay dệt nhung phục cho quân sĩ. Một hôm đang đi thuyền thì gặp địch, Thế Tổ Gia Long giục quân cố sức đánh, bà cũng cầm trống thúc quân khiến tướng sĩ phấn chấn mà đánh bại dịch. Đức hạnh của bà thật xứng đáng là bậc mẫu nghi trong thiên hạ. đúng với câu được ghi trong văn sách lập làm Hoàng hậu:

  • Hòa dịu cần kiệm tỏ đức hay, làm khuôn mẫu cho mọi gia đình
  • Đem phong hóa quan thư khiến Tu, Tề, Trị, Bình được trông cậy

Thánh Tổ chi hiền mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc Thánh Tổ Minh Mạng lên 3 tuổi, Thế Tổ Gia Long sai vào cung của Hoàng hậu để làm con. Hậu đòi phải có khế khoán, Thế Tổ sai Tả quân Lê Văn Duyệt viết một tờ đưa cho, bà sai đưa cung nữ cất giữ cẩn thận. Từ đấy Thánh Tổ Minh mạng hay vào cung hầu hạ cho Hoàng hậu, Hậu yêu quý Thánh Tổ như con ruột. Sau đó, các Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Phúc HyNguyễn Phúc Tuấn con ruột của Hoàng hậu đều qua đời, Hoàng hậu chỉ còn Thánh Tổ bên mình.

Đến khi Hậu băng, Thánh Tổ Minh mạng được lệnh chủ trì tang lễ như trưởng tử. Nhưng các quan cho rằng nên để Hoàng tôn Đán, con ruột của Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh làm chủ trì. Bấy giờ Thế Tổ Gia long dụ rằng: "Hoàng tử (chỉ Thánh Tổ hoàng đế) là con của Hoàng hậu, còn có khé khoán ở kia, nên sai làm chủ việc thờ cúng. Việc lớn của quốc gia không thể nhất khái câu nệ lễ của nhà dân". Có quan cho rằng xưng hô trong văn khấn khó nói, Thế Tổ lại dụ: "Con phụng mệnh cha để tế mẹ, danh chính ngôn thuận, có gì là không được". Sau mới hết dị nghị.

Lúc bấy giờ, Thuận Thiên Cao Hoàng hậu Trần thị là mẹ sinh Thánh Tổ đang giữ vị phi tần trong cung, từ khi Thánh Tổ vào hầu Hoàng hậu thì trở thành con của Hậu, nên mới có lệ thế. Khi Hậu qua đời, Thánh Tổ đã lên 23 tuổi, về sau lại trở về bên Thuận Thiên Cao hoàng hậu.

Đế Hậu tín vật[sửa | sửa mã nguồn]

Về thỏi vàng năm xưa, Hoàng hậu luôn giữ bên mình từ khi Thế Tổ lên đường đi Xiêm. Sau khi lên ngôi hoàng đế, ông hỏi bà về nửa thoi vàng năm xưa, bà đưa ra và Thế Tổ Gia Long mừng rỡ nói: "Vàng này còn giữ được, đó thật là ân trời đã giúp trong lúc nguy nan, chẳng nên quên lãng. Vậy phải để dành về sau cho con cháu biết." rồi lấy nửa thoi còn lại ráp thành hoàn chỉnh rồi giao hết cho bà. Hoàng hậu truyền lại cho Thánh Tổ Minh Mạng.

Về sau, Thánh Tổ Minh mạng đưa ra vật vàng ấy, dụ các quan thân cận rằng: "Đấy là vật làm tin của Hoàng khảo, khi dời đi xa lưu lại để cho trẫm". Ông bèn sai khắc chữ Thế Tổ Đế Hậu Quý Mão bá thiên thời tín vật (世祖帝后癸卯播天時信物), rồi đưa vào để ở điện Phụng Tiên.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Bà sinh tổng cộng 4 người con trai:

  • Nguyễn Phúc Chiêu [阮福昭], mất sớm.
  • Nguyễn Phúc Cảnh [阮福景], được ban thụy là Anh Duệ hoàng thái tử (英睿皇太子).
  • Nguyễn Phúc Hy [阮福曦; 1782 - 21 tháng 5, 1801], phong hiệu là Thuận An Đôn Mẫn công (順安敦敏公). Người tinh anh nghiêm nghị, hay cầm quân đánh dẹp. ông có một cái búa bằng đồng, hay cầm theo đánh trận, người đời gọi là Phủ Công.
  • Nguyễn Phúc Tuấn [阮福晙], lên 12 tuổi thì chết, tặng làm Thiệu Uy công (绍威公).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi theo Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập) và GS. Nguyễn Khắc Thuần (Việt sử giai thoại, Tập 8, Nxb Giáo dục, 1998, tr. 7). Việt Nam gia phả chép bà sinh ngày 25 tháng 12 năm Tân Tỵ (19 tháng 1 năm 1762),

Nguồn tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thừa Thiên Cao Hoàng hậu
Tước hiệu
Tiền vị:
Hoàng hậu nhà Nguyễn đầu tiên
Hoàng hậu Việt Nam
1806 - 1814
Kế vị
Thuận Thiên Cao Hoàng hậu