Tống Thị Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thừa Thiên hoàng hậu
Hoàng hậu Việt Nam
Chính cung nhà Nguyễn
Tại vị 1806 - 1820
Tiền nhiệm Chính cung đầu tiên nhà Nguyễn
Kế nhiệm Thuận Thiên Cao hoàng hậu
Thông tin chung
Phu quân Gia Long hoàng đế
Hậu duệ
Tên đầy đủ Tống Thị Lan
Tước hiệu Nguyên phi
Hoàng hậu
Thụy hiệu Cao Hoàng Hậu
Miếu hiệu Thừa Thiên
Hoàng tộc nhà Nguyễn
Thân phụ Tống Phúc Khuông
Thân mẫu Lê phu nhân
Sinh 1761
huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Mất 1814
Phú Xuân, Việt Nam
An táng 1815lăng Thiên Thọ

Tống Thị Lan (宋氏蘭, 1761-1814), là tên húy của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu(承天高皇后), vợ cả vua Gia Long của triều đại nhà Nguyễn.

Bà là người đoan chính, xinh đẹp, vua Gia Long đã đích thân đem lễ vật đến hỏi cưới bà. Lênh đênh theo vua từ lúc gian khó, có khi lại thúc trống giúp cứu vua trong cơn nguy khốn. Khi vua đi xa, vẫn giữ vật tin, một lòng một dạ đi theo vua.

Nhưng bà số khổ, con cái đều có số chết sớm cả, khi chưa đầy 60 tuổi lại mất đi. Vua rất thương mà khóc thảm thiết, đặt mộ của bà kế bên của ông ở lăng Thiên Thọ chính là bằng chứng tình cảm của ông đối với bà, và cũng là vai trò to lớn của bà trong cuộc đời ông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bà có tên tự là Liên, sinh năm Tân Tỵ (1761)[1]Tống Sơn, Thanh Hóa, là con gái thứ ba của Quý Quốc công Tống Phúc Khuông và bà mẹ họ Lê.

Khi Phú Xuân bị quân Trịnh đánh chiếm vào năm Giáp Ngọ (1774), bà theo cha vào Nam đến ở Gia Định. Năm Mậu Tuất (1778) bà 18 tuổi, được tiến cung rồi tấn phong làm Nguyên phi(元妃).

Năm Quý Mão (1783) quân Tây Sơn đánh Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) phải lánh ra Phú Quốc, được người Xiêm La đem thuyền đến đón. Trước khi sang Xiêm, chúa Nguyễn cho Hoàng tử Cảnh qua Pháp cầu viện.

Ngài lại đem ra một dật vàng giao cho bà một nửa mà bảo rằng: "Con chúng ta đi rồi, ta cũng sẽ đi đây. Phi ở lại phụng thờ quốc mẫu, chưa biết sau này sẽ gặp nhau ở đâu và lúc nào, Phi cất vàng này làm của tin".

Năm Mậu Thân (1788) khi chúa Nguyễn lấy lại Gia Định, cho người đến Phú Quốc đón bà. Từ đây, mỗi khi Gia Long đánh giặc, bà thường đi theo.

Năm Bính Thìn (1796) bà được lập làm Vương hậu. Đến năm Bính Dần (1806) được lập làm Hoàng hậu.

Giờ Tuất ngày 3 tháng 2 năm Giáp Tuất (22 tháng 2 năm 1814) bà mất, thọ 53 tuổi. Qua năm sau bà được an táng tại lăng Thiên ThọHuế.

Tháng 6 năm Canh Thìn (1820) tôn thụy là: Thừa Thiên Tá Thánh Hậu Đức Từ Nhân Giản Cung Tề Hiếu Dục Chính Thuận Nguyên Cao Hoàng hậu(承天佐聖厚德慈仁簡恭齊孝翼正順元高皇后).

Năm Nhâm Ngọ (1822) thần chủ của bà được rước vào thờ ở Thế Miếu, ở bên phải thần chủ của Thế Tổ. Bà còn được thờ ở điện Phụng Tiên trong Hoàng thành và điện Minh Thành ở lăng Thiên Thọ.

Tính cách[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là người thân hậu, cần kiệm, biết thương yêu tất cả mọi người. Bà từ khi gặp lại Gia Long từ Xiêm về, luôn ở bên vua kể cả trên chiến trường, tựa như nàng Ngu Cơ luôn ở bên Hạng Vũ đời Hán vậy.

Trong lúc bôn ba nơi gian hiểm, bà tự tay dệt nhung phục cho quân sĩ. Một hôm đang đi thuyền thì gặp địch, Thế Tổ giục quân cố sức đánh, bà cũng cầm trống thúc quân khiến tướng sĩ phấn chấn mà đánh bại dịch. Đức hạnh của bà thật xứng đáng là bậc mẫu nghi trong thiên hạ. đúng với câu được ghi trong văn sách lập làm Hoàng hậu:

  • Hòa dịu cần kiệm tỏ đức hay, làm khuôn mẫu cho mọi gia đình
  • Đem phong hóa quan thư khiến Tu, Tề, Trị, Bình được trông cậy

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Bà sinh tổng cộng ba người trai là Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Phúc Hy, Nguyễn Phúc Tuấn; nhưng đều mất sớm [2].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ghi theo Đại Nam chính biên liệt truyện (Sơ tập) và GS. Nguyễn Khắc Thuần (Việt sử giai thoại, Tập 8, Nxb Giáo dục, 1998, tr. 7). Việt Nam gia phả chép bà sinh ngày 25 tháng 12 năm Tân Tỵ (19 tháng 1 năm 1762).
  2. ^ Theo Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại (Tập 8, Nxb Giáo dục, 1998, tr. 9).

Nguồn tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Thị Lan
Tước hiệu
Tiền vị:
Hoàng hậu nhà Nguyễn đầu tiên
Hoàng hậu Việt Nam
1806-1814
Kế vị
Thuận Thiên Cao hoàng hậu