USS Breckinridge (DD-148)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Breckinridge (DD-148)
Tàu khu trục USS Breckinridge (DD-148)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Breckinridge (DD-148)
Đặt tên theo: Joseph Breckinridge
Hãng đóng tàu: William Cramp and Sons, Philadelphia, Pennsylvania
Đặt lườn: 11 tháng 3, 1918
Hạ thủy: 17 tháng 8, 1918
Đỡ đầu bởi: cô Genevieve Dudley Breckinridge
Nhập biên chế: 27 tháng 2, 1919
Tái biên chế: tháng 5, 1930
tháng 9, 1939
Xuất biên chế: 30 tháng 6, 1922
tháng 9, 1936
30 tháng 11, 1945
Xếp lớp lại: AG-112, 30 tháng 6, 1945
Xóa đăng bạ: 19 tháng 12, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
1 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 31 tháng 10, 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Breckinridge (DD–148) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, sau được cải biến thành tàu phụ trợ AG-112 vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu úy Hải quân Joseph Breckinridge (1872-1898).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Breckinridge được đặt lườn vào ngày 11 tháng 3, 1918 tại xưởng tàu của hãng William Cramp & SonsPhiladelphia, Pennsylvania. Nó được hạ thủy vào ngày 17 tháng 8, 1918, được đỡ đầu bởi cô Genevieve Dudley Breckinridge, cháu gái Thiếu úy Breckinridge, và được đưa ra hoạt động vào ngày 27 tháng 2, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Arthur L. Bristol.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Breckinridge gia nhập Lực lượng Khu trục trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương, hoạt động ngoài khơi vịnh Guantánamo, Cuba. Nó được bố trí dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ chủ yếu trong nhiệm vụ phát triển và thử nghiệm các thiết bị sonar cho đến khi được cho xuất biên chế vào ngày 30 tháng 6, 1922 và đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia.

Breckinridge được cho nhập biên chế trở lại vào tháng 5, 1930, và phục vụ cùng Lực lượng Tuần tiễu trực thuộc Hạm đội Hoa Kỳ dọc theo bờ Đông cho đến cuối năm 1932. Nó lên đường đi sang khu vực Thái Bình Dương, nơi nó phục vụ cùng Lực lượng Tuần tiễu tại khu vực từ Alaska đến Trân Châu Cảng. Đến tháng 5, 1936, nó được điều động sang Hải đội Huấn luyện 10 và hoạt động dọc theo bờ Đông và vùng biển Cuba cho đến tháng 9, 1936 khi nó lại được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị.

Breckinridge được cho nhập biên chế trở lại vào tháng 5, 1930, và phục vụ cùng Lực lượng Tuần tiễu trực thuộc Hạm đội Hoa Kỳ dọc theo bờ Đông cho đến cuối năm 1932. Nó lên đường đi sang khu vực Thái Bình Dương, nơi nó phục vụ cùng Lực lượng Tuần tiễu tại khu vực từ Alaska đến Trân Châu Cảng. Đến tháng 5, 1936, nó được điều động sang Hải đội Huấn luyện 10 và hoạt động dọc theo bờ Đông và vùng biển Cuba cho đến tháng 9, 1936 khi nó lại được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị.

Sau ba năm bị bỏ không tại Philadelphia, Breckinridge được cho nhập biên chế trở lại vào tháng 9, 1939 và phục vụ cùng Đội 66 thuộc Hải đội Đại Tây Dương trong nhiệm vụ Tuần tra Trung lập. Đến tháng 12, 1940, nó được điều sang Trạm Tuần tra Nội địa tại Vùng kênh đào Panama, và sang tháng 5, 1941 nó đặt căn cứ tại Key West, Florida, làm nhiệm vụ tuần tra, tiến hành các thử nghiệm dưới nước và thực tập.

Breckinridge hoạt động trực thuộc Tư lệnh Duyên hải Tiền phương Caribe trong nhiệm vụ tuần tra và hộ tống cho đến tháng 12, 1943, khi nó được điều về Hạm đội Đại Tây Dương. Nó gia nhập Đội đặc nhiệm 21.13, một đội tìm diệt, vào ngày 14 tháng 1, 1944 cho các hoạt động càn quét chống tàu ngần giữa Đại Tây Dương. Quay trở về Norfolk vào ngày 27 tháng 2 sau một đợt hoạt động an bình, Đội đặc nhiệm 21.13 được giải tán và chiếc tàu khu trục đi đến Boston, Massachusetts để đại tu. Vào ngày 22 tháng 3, nó quay trở lại Norfolk gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 6 để hộ tống một đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương. Khởi hành vào ngày 24 tháng 3, đoàn tàu đi đến Địa Trung Hải mà không bị ngăn trở. Tuy nhiên, trong đêm 11 tháng 4/11/12 tháng 4, nhiều máy bay Đức đã tấn công đoàn tàu, gây hư hại cho tàu khu trục hộ tống Holder.

Breckinridge quay trở về Boston vào ngày 11 tháng 5, 1944. Đến ngày 27 tháng 5, nó trình diện để phục vụ cùng Tư lệnh Duyên hải Tiền phương Caribe, và hoạt động tại vùng phụ cận vịnh Guantánamo, Cuba cho đến ngày 7 tháng 2, 1945, khi nó quay trở lại hoạt động cùng Hạm đội Đại Tây Dương. Sau khi trải qua đợt đại tu tại Xưởng hải quân Boston từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 31 tháng 3, nó tiến hành các hoạt động tại New London, Connecticut như là soái hạm của Đội khu trục 54.

Vào ngày 30 tháng 6, 1945, Breckinridge được xếp lại lớp như một tàu phụ trợ với ký hiệu lườn AG-112. Sau một thời gian cải biến tại chi nhánh của Xưởng hải quân New YorkBayonne, New Jersey, nó lên đường đi sang Thái Bình Dương, đi đến San Diego, California vào ngày 21 tháng 8. Nó trình diện để hoạt động cùng Tư lệnh Đội tàu sân bay 12 vào ngày 24 tháng 8, làm nhiệm vụ canh phòng máy bay và hộ tống. Nó phục vụ trong vai trò này cho đến khi được cho ngừng hoạt động vào ngày 30 tháng 11, 1945, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 31 tháng 10, 1946.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Breckinridge được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

USS General JC Breckingridge (AP-176) được đặt tên theo cha của Thiếu úy Breckinridge.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]