USS Abbot (DD-184)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Abbot (DD-184)
Tàu khu trục USS Abbot (DD-184)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Abbot (DD-184)
Đặt tên theo: Joel Abbot
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding and Drydock Company, Newport News, Virginia
Đặt lườn: 5 tháng 4, 1918
Hạ thủy: 4 tháng 7, 1918
Đỡ đầu bởi: cô Louise Abbot
Nhập biên chế: 19 tháng 7, 1919
Tái biên chế: 17 tháng 6, 1940
Xuất biên chế: 5 tháng 7, 1922
23 tháng 9, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh, 23 tháng 9, 1940
Phục vụ
Tên gọi: HMS Charlestown (I-21)
Nhập biên chế: 23 tháng 9, 1940
Xuất biên chế: 15 tháng 1, 1945
Số phận: Tháo dỡ, 1947
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Abbot (DD-184) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trong Chiến tranh Thế giới thứ hai được chuyển cho Anh Quốc dưới tên gọi HMS Charlestown (I-21) và hoạt động cho đến hết chiến tranh. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Hải quân Joel Abbot (1793-1855), người tham gia cuộc Chiến tranh 1812 và chuyến đi của Matthew C. Perry đến Nhật Bản năm 1852.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Abbot được đặt lườn vào ngày 5 tháng 4, 1918 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding and Drydock CompanyNewport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7, 1918, được đỡ đầu bởi cô Louise Abbot, chắt của Thiếu tướng Abbot, và được đưa ra hoạt động vào ngày 19 tháng 7, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân W. N. Richardson, Jr..

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Abbot[sửa | sửa mã nguồn]

Đặt căn cứ tại Norfolk, Virginia, Abbot hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ, vịnh Mexico và vùng biển Caribe, đặc biệt là tại vùng biển Cuba. Chiếc tàu khu trục được cho xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 5 tháng 7, 1922.

Sau khi bị bỏ không trong gần hai mươi năm, Abbot được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 17 tháng 6, 1940, và đã tuần tra tại vùng bờ Đông Hoa Kỳ cho đến khi được cho xuất biên chế tại Halifax, Nova Scotia vào ngày 23 tháng 9, 1940 để được chuyển giao cho Anh Quốc, như một phần của Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ đổi 50 tàu khu trục cũ cho Anh để có quyền thuê lại các căn cứ chiến lược của Anh tại vùng Tây Bán Cầu. Tên của Abbot được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 8 tháng 1, 1941.

HMS Charlestown[sửa | sửa mã nguồn]

Tạm thời được đặt tên là HMS Abbot, rồi nhanh chóng đổi tên thành HMS Charlestown, chiếc tàu khu trục được phân về Đội khu trục 17, và đi đến Belfast, Bắc Ireland vào ngày 8 tháng 10. Nó tham gia nhiều hoạt động rải mìn dọc theo bờ biển phía Tây Scotland. Đến tháng 9, 1943, nó được điều về Lực lượng Hộ tống Rosyth để hộ tống các đoàn tàu vận tải dọc theo bờ biển Anh.

Charlestown bị hư hại do va chạm với chiếc tàu hơi nước Florizell ngoài khơi Harwich, Anh vào tháng 12, 1944. Do đã cũ và lạc hậu, người ta quyết định không sửa chữa nó, và đưa về thành phần dự bị tại Grangemouth, Firth of Forth. Charlestown được cho ngừng hoạt động vào ngày 15 tháng 1, 1945 và bị tháo dỡ sau đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]