USS Maddox (DD-168)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS
Tàu khu trục USS Maddox (DD-168)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Maddox (DD-168)
Đặt tên theo: William A. T. Maddox
Hãng đóng tàu: Fore River Shipyard, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 20 tháng 7, 1918
Hạ thủy: 27 tháng 10, 1918
Đỡ đầu bởi: bà Clarence N. Hinkamp
Nhập biên chế: 10 tháng 3, 1919
Tái biên chế: 17 tháng 6, 1940
Xuất biên chế: 14 tháng 6, 1922
23 tháng 9, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 23 tháng 9, 1940
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Georgetown (I40)
Nhập biên chế: 23 tháng 9, 1940
Số phận: Chuyển cho Canada, tháng 9, 1942;
chuyển cho Liên Xô, 10 tháng 8, 1944
Phục vụ (Canada)
Tên gọi: HMCS Georgetown
Nhập biên chế: tháng 9, 1942
Số phận: Hoàn trả cho Anh, tháng 12, 1943
Phục vụ (Liên Xô)
Tên gọi: Doblestny (Доблестный)
Trưng dụng: 10 tháng 8, 1944
Số phận: Hoàn trả cho Anh Quốc 4 tháng 2, 1949; tháo dỡ, 16 tháng 9, 1952
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Maddox (DD–168) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất; trong Chiến tranh Thế giới thứ hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh và đổi tên thành HMS Georgetown (I-40), và chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada như là chiếc HMCS Georgetown, rồi lại được chuyển cho Hải quân Liên Xô năm 1944 và đổi tên thành Doblestny (Доблестный) trước khi được hoàn trả cho Anh Quốc năm 1949 và tháo dỡ vào năm 1952. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Maddox được đặt lườn vào ngày 20 tháng 7, 1918 tại xưởng tàu của hãng Fore River Shipbuilding CompanyQuincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 10, 1918, được đỡ đầu bởi bà Clarence N. Hinkamp, cháu Đại úy Maddox, và được đưa ra hoạt động vào ngày 10 tháng 3, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Edward C. S. Parker.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Maddox[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Đội 21 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương, Maddox khởi hành từ Boston vào ngày 3 tháng 5, 1919 để đi Trepassey, Newfoundland, trên đường hướng đến Azores, nơi nó làm nhiệm vụ cột mốc dẫn đường cho chuyến bay lịch sử vượt Đại Tây Dương của các thủy phi cơ NC Hải quân. Quay trở về Boston vào ngày 22 tháng 5, chiếc tàu khu trục hoạt động từ đây cho đến khi lên đường đi sang Châu Âu vào ngày 26 tháng 8, 1919. Đi đến Brest, Pháp vào ngày 19 tháng 9, nó tham gia đoàn hộ tống danh dự cho chiếc USS George Washington vốn đang hướng đến Ostend, Bỉ để đưa Vua Albert IHoàng hậu Bỉ viếng thăm Hoa Kỳ.

Được cho tách ra vào ngày 25 tháng 9, Maddox làm nhiệm vụ liên lạc băng qua eo biển Manche. Cho đến ngày 24 tháng 10, nó làm nhiệm vụ hộ tống tàu bè và vận chuyển nhân sự Hải quân và Lục quân từ DoverHarwich đến Boulogne, Pháp và Hook of Holland. Rời Harwich vào ngày 25 tháng 10, chiếc tàu khu trục đi qua kênh đào Kiel để viếng thăm nhiều cảng tại vùng biển Baltic. Quay trở về Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 2, 1920, Maddox hoạt động ngoài khơi Boston dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ trong hai năm tiếp theo. Vào ngày 17 tháng 7, 1920, nó được mang ký hiệu lườn DD-168. Rời Boston vào ngày 25 tháng 2, 1922 để đi Philadelphia, Pennsylvania, nó được cho xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 14 tháng 6, 1922 và được đưa về Hạm đội Dự bị.

Bị bỏ không trong 18 năm tiếp theo, Maddox chỉ được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 17 tháng 6, 1940. Sau một lượt phục vụ ngắn trong nhiệm vụ Tuần tra Trung lập giữa Đại Tây Dương, nó khởi hành từ Newport, Rhode Island vào ngày 16 tháng 9, 1940 để đi Halifax, Nova Scotia, nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 23 tháng 9, 1940. Cùng ngày hôm đó, theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ, nó được chuyển cho Anh Quốc và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Georgetown.

HMS Georgetown - HMCS Georgetown[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Georgetown tham gia Chiến dịch Bowery hộ tống cho tàu sân bay Hoa Kỳ Wasp vào tháng 5, 1942 trong chuyến đi thứ hai tăng viện máy bay tiêm kích Supermarine Spitfire cho đảo Malta đang bị phong tỏa. Đến tháng 9, 1942, nó được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada cho nhiệm vụ hộ tống vận tải tại khu vực Tây Đại Tây Dương. HMCS Georgetown được cải biến để tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống và chống tàu ngầm bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo 4 in (100 mm)/50 caliber ban đầu cùng một dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng nặng bên trên, lấy chỗ cho việc trang bị dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog cũng như tăng lượng mìn sâu mang theo.[2] Quay trở về Anh Quốc vào tháng 12, 1943, nó được đưa về lực lượng dự bị.

Doblestny[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 8, 1944, Georgetown được chuyển cho Hải quân Liên Xô và được đổi tên thành Doblestny (tiếng Nga: Доблестный). Nó phục vụ cùng Xô Viết cho đến khi được hoàn trả cho Anh vào ngày 4 tháng 2, 1949, và bị tháo dỡ vào ngày 16 tháng 9, 1952.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ Lenton 1968, tr. 91

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]