USS Bailey (DD-269)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Reading FL3316.jpg
Tàu khu trục HMS Reading (G71) của Hải quân Hoàng gia trong Thế Chiến II
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bailey (DD-269)
Đặt tên theo: Theodorus Bailey
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 3 tháng 6, 1918
Hạ thủy: 5 tháng 2, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Rosalie Fellows Bailey
Nhập biên chế: 27 tháng 6, 1919
Tái biên chế: 30 tháng 9, 1939
Xuất biên chế: 16 tháng 6, 1922
26 tháng 11, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 26 tháng 11, 1940
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Reading (G71)
Nhập biên chế: 26 tháng 11, 1940
Số phận: Tháo dỡ, tháng 7, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Bailey (DD-269) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nó được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh, được đổi tên thành HMS Reading (G71), và đã phục vụ cho đến khi xung đột kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Theodorus Bailey (1805-1877), người từng tham gia các cuộc Chiến tranh Mexico-Hoa KỳNội chiến Hoa Kỳ.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bailey được đặt lườn vào ngày 3 tháng 6, 1918 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 2, 1919, được đỡ đầu bởi cô Rosalie Fellows Bailey, chắt của đô đốc Bailey; và được đưa ra hoạt động vào ngày 27 tháng 6, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân A. Sharp.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Bailey[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Hạm đội Thái Bình Dương, Bailey tiến hành các hoạt động thường lệ dọc theo vùng bờ Tây từ tháng 10, 1919 đến tháng 6, 1922. Do tình trạng bất ổn tại khu vực bờ biển phía Tây của Mexico, nó được phân công nhiệm vụ tuần tra tại đây trong một thời gian ngắn vào năm 1920. Vào ngày 16 tháng 6, 1922, nó được cho xuất biên chế tại San Diego, California.

Bailey được cho nhập biên chế trở lại tại San Diego vào ngày 30 tháng 9, 1939, và đã trình diện để phục vụ cùng Đội khu trục 72 trực thuộc Hải đội Đại Tây Dương. Nó hoạt động ngoài khơi vùng bờ Đông cho đến tháng 11, 1940. Vào ngày 26 tháng 11, 1940, nó được cho xuất biên chế tại Halifax, Nova Scotia và được chuyển cho chính phủ Anh Quốc theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ.

HMS Reading[sửa | sửa mã nguồn]

Được đổi tên thành HMS Reading (G71), nó được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh vào ngày 26 tháng 11, 1940, và được phân về Chi hạm đội Khu trục Town 5. Nó đi đến Plymouth, Anh Quốc vào ngày 17 tháng 12, 1940, nơi nó được tái trang bị và cải biến tại Xưởng tàu Devonport.

Từ tháng 3 đến tháng 7, 1941, hoạt động từ Liverpool, Reading hộ tống các đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương. Đến tháng 7, 1941, nó gia nhập Đội hộ tống Newfoundland và ở lại đơn vị này cho đến tháng 5, 1942. Trong vai trò này, nó đã hộ tống cho thiết giáp hạm Prince of Wales đưa Thủ tướng Winston Churchill tham dự Hội nghị Newfoundland. Nó được bố trí tại vịnh Placentia cùng các tàu chiến khác của Hải quân Hoàng gia và Hải quân Hoa Kỳ làm nhiệm vụ canh phòng cho hội nghị. Sau hội nghị, nó được tạm thời phân công hộ tống vận tải vượt đại dương.

Từ tháng 5 đến tháng 10, 1942, Reading được đại tu tại London. Sau đó nó được tháo dỡ vũ khí và phục vụ như một tàu mục tiêu để huấn luyện máy bay tại Căn cứ Không lực Fearn, Scotland, và tiếp tục nhiệm vụ này cho đến tháng 7, 1945, khi nó bị tháo dỡ tại Rosyth.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]