USS Marcus (DD-321)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Marcus
Tàu khu trục USS Marcus (DD-321)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Marcus (DD-321)
Đặt tên theo: Arnold Marcus
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 20 tháng 5, 1919
Hạ thủy: 22 tháng 8, 1919
Đỡ đầu bởi: bà Arnold Marcus
Nhập biên chế: 23 tháng 2, 1921
Xuất biên chế: 31 tháng 5, 1930
Xóa đăng bạ: 28 tháng 1, 1935
Số phận: Đánh chìm như một mục tiêu, 25 tháng 6, 1935
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Marcus (DD-321) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Trung úy Hải quân Arnold Marcus (1892-1917), người thiệt mạng trong một vụ nổ tàu ngầm tại Philippines. Marcus ngừng hoạt động năm 1930 và bị đánh chìm như một mục tiêu năm 1935 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Marcus được đặt lườn vào ngày 20 tháng 5, 1919 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 22 tháng 8, 1919, được đỡ đầu bởi bà Arnold Marcus, vợ góa Trung úy Marcus; và được đưa ra hoạt động vào ngày 23 tháng 2, 1921 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân C. E. Rosendahl.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất chạy thử máy, Marcus được phân về lực lượng khu trục của Hạm đội Thái Bình Dương. Là một đơn vị thuộc Hải đội 13 và sau đó là Hải đội 12, nó hoạt động ngoài khơi vùng bờ Tây với phạm vi trải rộng từ Seattle, Washington đến Panama. Vào tháng 2-tháng 3, 1924, nó tham gia cùng các tàu chiến khác thuộc Hạm đội Chiến trận trong cuộc tập trận hạm đội mô phỏng một cuộc tấn công vào kênh đào Panama. Từ tháng 4 đến tháng 7, 1925, nó tham gia tập trận chiến thuật hạm đội tại khu vực quần đảo Hawaii. Sau đó nó quay trở lại lịch trình hoạt động thường lệ cho đến năm 1927. Trong tháng 3tháng 4 năm đó, nó lại lên đường đi về phía Nam tham gia cuộc cơ động hạm đội tại vùng biển Caribe, rồi quay trở lại vùng bờ Tây. Giữa những năm 19271929, nó thực hiện nhiều chuyến đi đến Honolulu; một chuyến nhằm huấn luyện Hải quân Dự bị và hai chuyến khác để hộ tống tàu sân bay.

Vào tháng 9, 1929, Marcus được lệnh đi đến San Diego, California nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 31 tháng 5, 1930. Bị loại bỏ nhằm tuân thủ những điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London, nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 28 tháng 1, 1935, và bị đánh đắm như một mục tiêu thực hành hải pháo vào ngày 25 tháng 6, 1935.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]