USS Bruce (DD-329)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Bruce (DD-329)
Tàu khu trục USS Bruce (DD-329)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bruce (DD-329)
Đặt tên theo: Frank Bruce
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 30 tháng 7, 1919
Hạ thủy: 20 tháng 5, 1920
Đỡ đầu bởi: bà Annie Bruce
Nhập biên chế: 29 tháng 9, 1920
Xuất biên chế: 1 tháng 5, 1930
Xóa đăng bạ: 6 tháng 11, 1931
Số phận: Bán để tháo dỡ, tháng 8, 1932
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Bruce (DD-329) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Trung úy Hải quân Frank Bruce (1879-1919), người thiệt mạng trong một nhiệm vụ quét mìn tại Bắc Hải. Bruce ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1932 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bruce được đặt lườn vào ngày 30 tháng 7, 1919 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 20 tháng 5, 1920, được đỡ đầu bởi bà Annie Bruce, vợ góa Trung úy Bruce; và được đưa ra hoạt động vào ngày 29 tháng 9, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân G. N. Reeves, Jr..

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

BrucePreston trong âu tàu Pedro Miguel, khoảng năm 1922.

Bruce hoạt động từ San Diego, California trong năm phục vụ đầu tiên để huấn luyện kỹ thuật, thực hành tác xạ và ngư lôi cũng như cơ động cùng Hải đội Khu trục 5 trực thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Vào tháng 11, 1921, cảng nhà của nó được chuyển đến Boston, Massachusetts và nó trình diện để phục vụ cùng Đội khu trục 27 trực thuộc Hạm đội Tuần tiễu. Hoạt động thường lệ của nó trong những năm tiếp theo bao gồm thực hành và cơ động hạm đội. Đến tháng 12, 1924, vị chỉ huy của nó cũng đồng thời đảm nhiệm Tư lệnh Đội khu trục 27. Cảng nhà của nó lại được chuyển từ Boston đến Xưởng hải quân Norfolk vào tháng 6, 1925. Đến ngày 17 tháng 6, nó cùng đội của nó lên đường làm nhiệm vụ cùng Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Châu Âu, và trong một năm tiếp theo, nó hoạt động phối hợp cùng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ như một yếu tố bình ổn tại các khu vực đầy bất trắc và như lực lượng đảm bảo an ninh cho công dân Hoa Kỳ tại các khu vực này.

Sau khi quay trở về Norfolk, Bruce hoạt động dọc theo vùng bờ Đông và tại các vùng biển CubaHaiti cho đến tháng 3, 1927. Vào tháng 3, nó tham gia cuộc tập trận chiến thuật hạm đội tổ chức tại Colón, Panama, tiếp nối bởi đợt tập trung hạm đội dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Trong mùa Hè đó, nó thực hiện các chuyến đi huấn luyện cho nhân sự Hải quân Dự bị tại vùng biển Đông Bắc. Trong những năm 19281929, nó tiếp tục tham gia các cuộc cơ động hạm đội và thực hành dọc theo vùng bờ Đông.

Đến tháng 9, 1929, Bruce đi vào Xưởng hải quân Philadelphia, nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 1 tháng 5, 1930. Nó sau đó được cho kéo đến Xưởng hải quân Norfolk, nơi nó được sử dụng trong các thử nghiệm sức chịu đựng. Nó bị bán như sắt vụn vào tháng 8, 1932.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]