USS Robert Smith (DD-324)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Robert Smith (DD-324)
Đặt tên theo: Robert Smith
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 13 tháng 5, 1919
Hạ thủy: 19 tháng 9, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Jane Cooper
Nhập biên chế: 17 tháng 3, 1921
Xuất biên chế: 1 tháng 3, 1930
Xóa đăng bạ: 12 tháng 7, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Robert Smith (DD-324) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Bộ trưởng Hải quân Robert Smith (1757-1842). Robert Smith ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Robert Smith được đặt lườn vào ngày 13 tháng 5, 1919 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 19 tháng 9, 1919, được đỡ đầu bởi cô Jane Cooper; và được đưa ra hoạt động vào ngày 17 tháng 3, 1921 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Paul M. Bates.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Rời San Francisco vào ngày 5 tháng 4, 1921, Robert Smith hướng đến cảng nhà mới của nó là San Diego, California để hoạt động như là soái hạm của Đội khu trục 45 thuộc Chi hạm đội Khu trục 2, Hạm đội Thái Bình Dương. Nó di chuyển dọc theo vùng bờ Tây Hoa Kỳ và Mexico cùng Hạm đội Chiến trận cho đến năm 1925, được điều động sang Đội khu trục 35 từ tháng 9, 1922. Nó tiến hành các cuộc thực tập tác xạ, thực hành ngư lôi và tập trận, được đại tu hàng năm tại Xưởng hải quân Mare Island. Chiếc tàu khu trục đã rời Mare Island vào ngày 19 tháng 5, 1925 cho một chuyến đi cùng các đơn vị thuộc Hạm đội Chiến trận. Sau khi tham gia các cuộc cơ động ngoài khơi Lahaina Roads, nó rời Trân Châu Cảng vào ngày 1 tháng 7 để đi Pago Pago, Samoa; Melbourne, Australia; LytteltonWellington, New Zealand; và Tutuila, Samoa; quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 18 tháng 9.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]