USS Belknap (DD-251)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
DD251.jpg
Tàu khu trục USS Belknap (DD-251)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Belknap (DD-251)
Đặt tên theo: George Belknap
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Fore River Shipyard, Quincy
Đặt lườn: 31 tháng 7, 1918
Hạ thủy: 14 tháng 1, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Frances Georgiana Belknap
Nhập biên chế: 28 tháng 4, 1919
Tái biên chế: 22 tháng 11, 1940
Xuất biên chế: 28 tháng 6, 1922
4 tháng 8, 1945
Xếp lớp lại: AVD-8, 2 tháng 8, 1940
DD-251, 14 tháng 11, 1943
APD-34, 22 tháng 6, 1944
Xóa đăng bạ: 13 tháng 8, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
Đơn vị Tuyên dương Tổng thống
3 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 11, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
130 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Belknap (DD-251/AVD-8/DD-251/APD-34) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, được cải biến thành tàu tiếp liệu thủy phi cơ AVD-8, rồi thành tàu vận chuyển cao tốc APD-34 để tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai cho đến khi xung đột kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc George Belknap (1832-1903).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Belknap được đặt lườn vào ngày 31 tháng 7, 1918 tại xưởng tàu Fore River Shipyard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationQuincy Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 1, 1919, được đỡ đầu bởi cô Frances Georgiana Belknap, cháu nội đô đốc Belknap; và được đưa ra hoạt động vào ngày 28 tháng 4, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân S. Gassee.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chuyến đi chạy thử máy, Belknap gia nhập lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Địa Trung Hải; và sau khi phục vụ tại Châu Âu trong nhiều tháng, nó quay trở về Hoa Kỳ và gia nhập Đội khu trục 28 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương cho đến khi được đưa về lực lượng dự bị tại Xưởng hải quân Charleston vào năm 1920. Nó được cho xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 28 tháng 6, 1922.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 1940, Belknap được cải biến thành một tàu tiếp liệu thủy phi cơ, được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới AVD-8 vào ngày 2 tháng 8, 1940, và được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 22 tháng 11, 1940. Nó được phân về Không đoàn Tuần tra 5 đặt căn cứ tại Hamilton, Bermuda, và tiếp tục ở lại đây cho đến đầu năm 1941 khi nó quay trở về Newport, Rhode Island. Từ tháng 5 đến tháng 9, 1941, nó thực hiện ba chuyến đi từ Newport đến NewfoundlandIceland. Nó ở lại khu vực Reykjavík, Iceland từ tháng 9, 1941 đến tháng 5, 1942 trước khi quay trở về Xưởng hải quân Charleston cho một đợt đại tu kéo dài.

Từ tháng 8, 1942 đến tháng 1, 1943, Belknap làm nhiệm vụ tuần tra tại vùng biển Caribe, và từ tháng 2, 1943 đến tháng 1, 1944 đã phục vụ cùng các đội đặc nhiệm chống tàu ngầm của USS Bogue, USS CroatanUSS Core tại Đại Tây Dương. Được xếp lớp trở lại ký hiệu lườn DD-251 vào ngày 14 tháng 11, 1943, Belknap được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống do phục vụ cùng Đội đặc nhiệm 21.12 (nhóm của Bogue) từ ngày 20 tháng 4 đến ngày 20 tháng 6, 1943. Sau khi làm nhiệm vụ hộ tống vận tải dọc bờ Đông và vùng vịnh Mexico từ tháng 2 đến tháng 6, 1944, Belknap trải qua một đợt cải biến thành một tàu vận chuyển cao tốc và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới APD-34 vào ngày 22 tháng 6, 1944.

Sau khi việc cải biến hoàn tất, Belknap được điều sang khu vực Thái Bình Dương vào tháng 9, 1944. Từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 10, nó phục vụ như một tàu bảo vệ cho cuộc chiếm đóng Leyte thuộc Philippines; và từ ngày 3 đến ngày 11 tháng 1, 1945 như một tàu bắn phá bờ biển và trinh sát bãi đổ bộ cho cuộc đổ bộ lên vịnh Lingayen, Luzon. Vào ngày 11 tháng 1, nó xoay mọi khẩu súng của nó vào một máy bay tấn công cảm tử kamikaze Nhật Bản, nhưng không ngăn được nó đâm bổ vào ống khói số hai của mình, làm hỏng động cơ, khiến 38 người thiệt mạng và 49 người khác bị thương. Belknap tiếp tục ở lại khu vực Lingayen, được sửa chữa khẩn cấp cho đến ngày 18 tháng 1, khi nó được chiếc USS Hidatsa kéo đến Manus thuộc quần đảo Admiralty. Sau khi được sửa chữa tạm thời tại Manus, nó tiếp tục đi đến Xưởng hải quân Philadelphia để sửa chữa, đến nơi vào ngày 18 tháng 6. Được cho ngừng hoạt động vào ngày 4 tháng 8, 1945, tên của Belknap được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 13 tháng 8, 1945, và nó bị bán để tháo dỡ vào ngày 30 tháng 11, 1945.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống, Belknap còn được tặng thưởng ba Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]