USS Meade (DD-274)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Meade
Tàu khu trục USS Meade (DD-274)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Meade (DD-274)
Đặt tên theo: Richard Worsam MeadeRobert Leamy Meade
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 23 tháng 9, 1918
Hạ thủy: 24 tháng 5, 1919
Nhập biên chế: 8 tháng 9, 1919
Tái biên chế: 18 tháng 12, 1939
Xuất biên chế: 25 tháng 5, 1922
26 tháng 11, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 26 tháng 11, 1940
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Ramsey (G60)
Nhập biên chế: 26 tháng 11, 1940
Số phận: Tháo dỡ, 1947
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
120 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Meade (DD-274) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên hai anh em Chuẩn đô đốc Richard Worsam Meade (1837-1897) và Thiếu tướng Thủy quân Lục chiến Robert Leamy Meade (1842-1910). Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Meade được chuyển giao cho Anh Quốc như là chiếc HMS Ramsey (G60) vào năm 1940, và đã tiếp tục phục vụ trong chiến tranh cho đến khi xung đột kết thúc. Nó bị tháo dỡ vào năm 1947.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Meade được đặt lườn vào ngày 23 tháng 9, 1918 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 5, 1919, được đỡ đầu bởi cô Annie Paulding Meade; và được đưa ra hoạt động tại Boston, Massachusetts vào ngày 8 tháng 9, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Benjamin F. Tilley, Jr..

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Meade[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy dọc theo vùng bờ Đông, Meade được phân về Hạm đội Thái Bình Dương. Trong hơn hai năm tiếp theo, nó hoạt động từ các cảng thuộc vùng bờ Tây bao gồm San Diego, CaliforniaSan Francisco, California, tham gia các cuộc cơ động hải đội và hạm đội trong thành phần nhiều hải đội khác nhau. Nó được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày 25 tháng 5, 1922 và được đưa về lực lượng dự bị.

Meade được cho nhập biên chế trở lại tại San Diego vào ngày 18 tháng 12, 1939 dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Hải quân C. A. Printup. Sau khi quay trở về vùng bờ Đông vào năm 1940, nó hoạt động cùng Hải đội Khu trục 9 trực thuộc Hạm đội Hoa Kỳ. Nó được chọn trong số 50 tàu khu trục được chuyển cho Anh Quốc theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ. Meade được cho xuất biên chế và chuyển cho Anh Quốc vào ngày 26 tháng 11, 1940.

HMS Ramsey[sửa | sửa mã nguồn]

Nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Ramsey (G60), nó đã phục vụ tại khu vực Bắc Đại Tây Dương, và sau đó hoạt động như một tàu huấn luyện máy bay. Nó được cho ngừng hoạt động vào ngày 30 tháng 6, 1945 và bị tháo dỡ vào tháng 7, 1947 tại Boness, Anh Quốc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]