USS Bainbridge (DD-246)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Bainbridge (DD-246)
Tàu khu trục USS Bainbridge (DD-246)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bainbridge (DD-246)
Đặt tên theo: William Bainbridge
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding
Đặt lườn: 27 tháng 5, 1919
Hạ thủy: 12 tháng 6, 1920
Nhập biên chế: 9 tháng 2, 1921
Tái biên chế: 9 tháng 3, 1932
26 tháng 9, 1939
Xuất biên chế: 23 tháng 12, 1930
20 tháng 11, 1937
21 tháng 7, 1945
Xóa đăng bạ: tháng 11, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
1 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 11, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
137 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Bainbridge (DD-246) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và đã tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai cho đến khi xung đột kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Hải quân William Bainbridge (1774-1833), anh hùng của cuộc Chiến tranh 1812 cũng như các cuộc Chiến tranh Barbary thứ nhấtthứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bainbridge được đặt lườn vào ngày 27 tháng 5, 1919 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey. Nó được hạ thủy vào ngày 12 tháng 6, 1920, được đỡ đầu bởi cô Juliet Edith Greene, chắt của Thiếu tướng Bainbridge; và được đưa ra hoạt động vào ngày 9 tháng 2, 1921 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân E. L. Thebaud.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Hạm đội Đại Tây Dương, Bainbridge hoạt động cùng với hạm đội dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ và vùng biển Caribe, tiến hành thực tập chiến thuật và cơ động cho đến tháng 10, 1922, khi nó khởi hành đi Constantinople để gia nhập Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại vùng biển Thổ Nhĩ Kỳ. Vào ngày 16 tháng 12, 1922, nó đã cứu vớt khoảng 500 người sống sót từ chiếc tàu vận chuyển Pháp Vinh Long bị cháy ở khoảng 10 mi (16 km) ngoài khơi Constantinople. Do hoạt động anh dũng trong việc cứu hộ, Thiếu tá Hải quân Walter A. Edwards đã được tặng thưởng Huân chương Danh dự. Vào năm 1923, nó phục vụ như soái hạm tạm thời cho Tư lệnh Hạm đội Tuần tiễu tại Newport, Rhode Island, rồi tham gia Hải đội 14 thuộc Hạm đội Tuần tiễu và hoạt động tại Đại Tây Dương.

Từ năm 1923 đến năm 1928, Bainbridge tham gia các cuộc tập trung hạm đội hàng năm để cơ động chiến thuật phối hợp cũng như tập trận hạm đội. Vào năm 1927, nó được điều động tạm thời sang Hải đội Đặc vụ làm nhiệm vụ tuần tra ngoài khơi bờ biển Nicaragoa vào lúc diễn ra các biến động chính trị tại nước này. Nó cũng tham gia nhiều chương trình huấn luyện hàng năm vào mùa Hè của Hạm đội Tuần tiễu, thực hiện các chuyến đi huấn luyện cho quân nhân dự bị. Vào ngày 23 tháng 12, 1930, nó được xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia, Pennsylvania.

Vào ngày 9 tháng 3, 1932, Bainbridge được đưa trở lại biên chế giảm thiểu và được điều về Đội Dự bị Luân phiên 19, tham gia các chuyến đi huấn luyện cho Hải quân Dự bị. Nó nhập biên chế đầy đủ trở lại vào ngày 5 tháng 9, 1933, và được phân về Đội Khu trục 8 trực thuộc Lực lượng Tuần tiễu. Trong một giai đoạn ngắn, nó đã phục vụ cùng Hải đội Đặc vụ tại Florida Keysvịnh Guantánamo, Cuba; và sau đó được điều động sang khu vực Thái Bình Dương, đi đến San Diego, California vào ngày 5 tháng 11, 1934. Trong giai đoạn phục vụ tại vùng bờ Tây, Bainbridge đã thực hiện các chuyến đi đến British Columbia, AlaskaHawaii. Nó lại được cho xuất biên chế và đưa về Lực lượng Dự bị tại San Diego vào ngày 20 tháng 11, 1937.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Bainbridge đang được tiếp nhiên liệu từ tàu sân bay Hancock, năm 1944.

Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 26 tháng 9, 1939, Bainbridge được điều về Đội khu trục 62 và đã tham gia hoạt động Tuần tra Trung lập tại vùng kênh đào Panama cho đến mùa Hè năm 1940 khi nó được chuyển đến Key West, Florida để hoạt động tuần tra. Vào đầu năm 1941, nó di chuyển dọc theo bờ biển Đông Bắc, và từ tháng 5 đến tháng 11, 1941 đã thực hiện ba chuyến hộ tống vận tải đến NewfoundlandIceland.

Sau đó, từ tháng 12, 1941 đến tháng 7, 1945, Bainbridge hoạt động như một tàu hộ tống vận tải tại vùng biển ngoài khơi bờ Đông, vịnh Mexico và vùng biển Caribe, ngoại trừ năm chuyến hộ tống vận tải vượt Đại Tây Dương đến Bắc Phi từ tháng 2 đến tháng 12, 1943. Bainbridge được cho ngừng hoạt động vào ngày 21 tháng 7, 1945 tại Philadelphia và bị bán để tháo dỡ vào ngày 30 tháng 11, 1945.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bainbridge được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]