USS Case (DD-285)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Case (DD-285)
Đặt tên theo: Augustus Case
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 3 tháng 6, 1919
Hạ thủy: 21 tháng 9, 1919
Nhập biên chế: 8 tháng 12, 1919
Xuất biên chế: 22 tháng 10, 1930
Xóa đăng bạ: 22 tháng 10, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 17 tháng 1, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Case (DD-285) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc Augustus Case (1812-1893), người tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Case ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Case được đặt lườn vào ngày 3 tháng 6, 1919 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 9, 1919, được đỡ đầu bởi cô A. R. Case; và được đưa ra hoạt động vào ngày 8 tháng 12, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân C. S. Joyce.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được đưa vào hoạt động, Case trình diện để phục vụ cùng Đội khu trục 43 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương. Từ tháng 1 đến tháng 7, 1920, nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông, tham gia các cuộc cơ động mùa Đông tại vùng biển Caribe nơi nó thu thập những thông tin chiến thuật cho Học viện Cao đẳng Chiến tranh Hải quân. Từ tháng 7, 1920 đến tháng 12, 1921, nó hoạt động với biên chế nhân lực giảm thiểu 50%. Đến tháng 12, 1921, nó được bố trí thường trực cùng Đội khu trục 25 cho những hoạt động thường lệ nhằm duy trì tối đa trạng thái sẵn sàng hoạt động. Cùng với các cuộc thực tập tác xạ và thi đua kỹ thuật, nó còn tham gia các cuộc tập trận hạm đội hàng năm.

Từ năm 1924 đến năm 1925, Case đảm nhiệm vai trò soái hạm cho đội của nó, và đã khởi hành cùng đơn vị vào tháng 4, 1926 để đi sang Châu Âu, biểu dương lực lượng và viếng thăm thiện chí nhiều cảng tại AnhĐịa Trung Hải. Quay trở về Hoa Kỳ một năm sau đó, nó tiếp tục các hoạt động thường lệ dọc theo vùng bờ Đông và tại vùng biển Caribe. Case được đưa vào danh sách đề nghị tháo dỡ theo những điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London vào năm 1929. Nó được cho xuất biên chế tại Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 22 tháng 10, 1930, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 17 tháng 1, 1931.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]