USS Hull (DD-330)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Hull
Tàu khu trục USS Hull (DD-330)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Hull (DD-330)
Đặt tên theo: Isaac Hull
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 13 tháng 9, 1920
Hạ thủy: 18 tháng 2, 1921
Đỡ đầu bởi: cô Elizabeth Hull
Nhập biên chế: 26 tháng 4, 1921
Xuất biên chế: 31 tháng 3, 1930
Xóa đăng bạ: 22 tháng 7, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 10 tháng 6, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Hull (DD-330) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Thiếu tướng Hải quân Isaac Hull (1773-1843), người tham gia cuộc Chiến tranh 1812. Hull ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hull được đặt lườn vào ngày 13 tháng 9, 1920 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 2, 1921, được đỡ đầu bởi cô Elizabeth Hull; và được đưa ra hoạt động vào ngày 26 tháng 4, 1921 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân T. J. Doyle.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất chạy thử máy dọc theo bờ biển California, Hull tham gia các hoạt động thực tập và huấn luyện ngoài khơi San Diego, California trong thời gian còn lại của năm. Trong năm 1922, nó tham gia nhiệm vụ khảo sát địa hình dưới nước và vẽ bản đồ dọc bờ biển Nam California. Sau khi hoàn tất cuộc cơ động mùa Đông ngoài khơi Panama và thực tập huấn luyện ngoài khơi San Diego, nó khởi hành vào ngày 28 tháng 6, 1923 trong thành phần hộ tống cho chuyến viếng thăm của Tổng thống Warren G. Harding đến Alaska. Chính trong chuyến đi này mà Harding mắc bệnh, và từ trần tại San Francisco vào ngày 2 tháng 8. Chiếc tàu khu trục quay trở về San Diego vào ngày 8 tháng 9, và tiếp nối các hoạt động thực hành tại khu vực này.

Hull khởi hành vào ngày 2 tháng 1, 1924 để hoạt động tại vùng biển Caribe, bao gồm một chuyến viếng thăm Veracruz, Mexico nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của công dân Hoa Kỳ tại đây. Đến tháng 4, nó đi đến Seattle, Washington, và hoạt động giữa thành phố này và Seward, Alaska, khảo sát địa hình dưới nước cho việc lắp đặt đường cáp liên lạc mới đến Alaska. Khi quay về vào đầu tháng 5, nó tiếp nối các hoạt động thực hành dọc bờ Tây. Nó tiếp tục hoạt động từ San Diego xen kẻ với những chuyến đi đến Panama cho đến năm 1927. Sau đó nó lên đường cùng Hạm đội Chiến trận vào ngày 17 tháng 11 cho các cuộc cơ động chiến thuật tại vùng biển Caribe. Chiếc tàu khu trục viếng thăm New York trước khi quay trở về San Diego vào ngày 26 tháng 6 tiếp nối các hoạt động huấn luyện.

Hull đi đến Xưởng hải quân Mare Island để đại tu vào ngày 11 tháng 6, 1929, và quay trở về San Diego vào tháng 10, nơi nó được cho xuất biên chế vào ngày 31 tháng 3, 1930. Nó bị bán để tháo dỡ vào ngày 10 tháng 6, 1931 nhằm tuân thủ những điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Chiếc chuông của con tàu được trao tặng cho Đại học MarquetteMilwaukee, Wisconsin.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]