USS Overton (DD-239)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Overton (DD-239)
Đặt tên theo: Macon C. Overton
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding
Đặt lườn: 30 tháng 10, 1918
Hạ thủy: 10 tháng 7, 1919
Đỡ đầu bởi: bà Margaret C. Overton
Nhập biên chế: 30 tháng 6, 1920
Tái biên chế: 1932
26 tháng 9, 1939
Xuất biên chế: 3 tháng 2, 1931
20 tháng 11, 1937
30 tháng 7, 1945
Xếp lớp lại: APD-23, 21 tháng 8, 1943
Xóa đăng bạ: 13 tháng 8, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
8 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 11, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Overton (DD-239) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, đã tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, được cải biến thành tàu vận chuyển cao tốc APD-23, và hoạt động cho đến khi xung đột kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Đại úy Thủy quân Lục chiến Macon C. Overton (1890-1918), người tử trận trong Thế Chiến I tại Pháp.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Overton được đặt lườn vào ngày 30 tháng 10, 1918 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Corporation. Nó được hạ thủy vào ngày 10 tháng 7, 1919, được đỡ đầu bởi bà Margaret C. Overton, mẹ của Đại úy Overton; và được đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 6, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân P. T. Berry.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất chạy thử máy, Overton hoạt động cùng Hải đội Khu trục 3, và sau đó cùng Hải đội Khu trục 5, dọc theo vùng bờ Đông; vào đầu tháng 9, 1920, nó trợ giúp vào việc cứu hộ chiếc tàu ngầm S-5. Sau đó nó được điều sang Hải đội Khu trục 2 và được lệnh đi đến vùng biển Châu Âu. Rời New York ngày 14 tháng 9, nó gia nhập lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Hắc HảiConstantinople, Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 5 tháng 10. Trong một năm rưỡi tiếp theo, nó thực hiện các nhiệm vụ ngoại giao và nhân đạo cần thiết sau Thế Chiến I, thường xuyên viếng thăm các cảng Nga, Romania và Thổ Nhĩ Kỳ cũng như các cảng Levant trong Địa Trung Hải, phân phối hàng tiếp liệu cứu trợ, cung cấp phương tiện vận chuyển và liên lạc cũng như di tản người tị nạn. Nhiệm vụ di tản được đẩy mạnh sau khi lực lượng Bạch vệ dưới quyền tướng Pyotr N. Wrangel đầu hàng lực lượng Bolshevik tại Crimea vào tháng 11, 1920.

Vào tháng 7, 1922, Overton quay trở về Hoa Kỳ để thực tập huấn luyện cùng Hạm đội Tuần tiễu, nhưng khi mâu thuẫn giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bộc phát thành xung đột tại Smyrna vào tháng 10, nó lại được điều sang vùng biển Thổ Nhĩ Kỳ trong sáu tháng. Đến giữa tháng 5, 1923, nó lên đường về phía Tây đi Ý, nơi nó khởi hành quay trở về Hoa Kỳ, về đến New York vào ngày 12 tháng 6. Các hoạt động thực hành hải đội và hạm đội trong tám năm tiếp theo diễn ra tại khu vực Đại Tây Dương, ngoại trừ hai lượt bố trí sang Thái Bình Dương vào các năm 19251926 để tập trận Vấn đề Hạm đội.

Vào ngày 3 tháng 2, 1931, Overton được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị. Một năm sau, nó được đặt trong tình trạng dự bị luân phiên, và phục vụ trong tình trạng này cho đến khi lại được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị vào ngày 20 tháng 11, 1937.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai bùng nổ tại Châu Âu vào năm 1939, Overton được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 26 tháng 9, và được phân nhiệm vụ Tuần tra Trung lập. Neo đậu tại Boston, Massachusetts vào ngày 7 tháng 12, 1941, nhiệm vụ của nó chỉ thay đổi đôi chút sau khi Hoa Kỳ tham gia chiến tranh. Chiếc tàu khu trục hoạt động hộ tống vận tải và tuần tra chống tàu ngầm, thoạt tiên là trên tuyến đường đi sang Iceland, và sau đó tại vịnh Mexico và vùng biển Caribe. Từ tháng 7, 1942 đến tháng 2, 1943, nó làm nhiệm vụ tương tự dọc theo vùng bờ Đông; rồi từ 7 tháng 2 đến 26 tháng 5, nó hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa New York và Casablanca. Nó được đại tu, và vào cuối tháng 6 đã tham gia một trong những đội đặc nhiệm tàu sân bay hộ tống đầu tiên, Đội đặc nhiệm 21.11, tập trung chung quanh chiếc tàu sân bay hộ tống Santee, và cùng với đội này bảo vệ cho tuyến đường vận tải Norfolk-Casablanca. Vào các ngày 1430 tháng 7, máy bay của đội này được ghi công đã đánh chìm các tàu ngầm U-boat Đức U-160U-43 tương ứng.

Overton quay trở lại Norfolk vào ngày 6 tháng 8, 1943, được cải biến thành một tàu vận chuyển cao tốc, và được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới APD-23 vào ngày 21 tháng 8. Đến ngày 22 tháng 10, nó lên đường đi sang khu vực Thái Bình Dương, đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 12 tháng 11 để tiếp tục huấn luyện, và đến ngày 22 tháng 1, 1944 đã lên đường hướng sang phía Tây cùng Đội Vận chuyển Tiền phương phía Nam để đi Kwajalein. Trước lúc bình minh ngày 31 tháng 1, nó tung lực lượng trinh sát lên bờ tại Gehh, nơi mà từ đó họ di chuyển đến các đảo NinniGea để kiểm soát eo biển Gea thuộc phần phía Nam của vủng biển Kwajalein. Sau đó nó làm nhiệm vụ bắn phá, hỗ trợ hỏa lực và trinh sát. Vào ngày 4 tháng 2, nó hỗ trợ cho việc chiếm đóng Bigei, và đến ngày 8 tháng 2 lên đường quay trở về Trân Châu Cảng và vùng bờ Tây. Đến ngày 29 tháng 5, nó quay trở lại khu vực chiến trường với lực lượng Thủy quân Lục chiến trên tàu để đi Saipan. Cho đến ngày 24 tháng 6, nó bảo vệ cho khu vực vận chuyển và tuần tra ngoài khơi Tinian, rồi rút lui về Eniewtok để hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến Saipan. Đến tháng 7, nó tiếp nố hiệm vụ tuần tra và bắn phá ngoài khơi Tinian, rồi bảo vệ cho các tàu đổ bộ LCT đi đến Guam, và đến cuối tháng lại hộ tống các tàu đổ bộ LST quay về Trân Châu Cảng.

Overton lại lên đường hướng sang phía Tây vào ngày 15 tháng 9, lần này là đi đến Manus, và từ đây vào ngày 12 tháng 10 tiếp tục đi đến Philippines để bảo vệ cho nhân sự của đội phá hoại dưới nước (UDT), khi họ được tung lên bờ chuẩn bị cho cuộc đổ bộ lên Leyte. Sau đó nó hộ tống các đoàn tàu tiếp liệu trước khi tham gia chiến dịch đổ bộ tiếp theo lên vịnh Lingayen. Vào ngày 27 tháng 12, nó khởi hành từ vịnh Humboldt, tiến vào vịnh Lingayen ngày 6 tháng 1, 1945, và sang ngày hôm sau tiếp tục hỗ trợ cho các đội UDT trên bờ. Tong suốt quá trình đổ bộ và cho đến ngày 12 tháng 1, nó hộ tống các đơn vị hạng nặng và tàu vận tải trước khi rút lui về Leyte.

Từ Leyte, Overton tiếp tục đi Ulithi, nơi nó bảo vệ đội tiếp liệu cho lực lượng tàu sân bay nhanh cho đến đầu tháng 3. Sau đó nó tuần tra ngoài khơi Iwo Jima, và vào ngày 10 tháng 3 lại tiếp nối nhiệm vụ hộ tống. Một chuyến đi đến Leyte được tiếp nối bởi nhiệm vụ hộ tống vận tải đến Okinawa; nó đi đến ngoài khơi đảo này vào ngày 11 tháng 4, và làm nhiệm vụ tuần tra và cột mốc radar cho đến ngày 15 tháng 4, rồi hướng đi Saipan. Từ đây nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ.

Overton đi đến San Francisco vào ngày 15 tháng 5, và được lệnh đi đến Philadelphia để ngừng hoạt động. Được cho xuất biên chế vào ngày 30 tháng 7, 1945, tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 13 tháng 8, 1945, và lườn tàu được bán cho hãng Boston Metals CompanyBaltimore, Maryland vào ngày 30 tháng 11, 1945 để tháo dỡ.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Overton được tặng thưởng tám Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]