USS Stoddert (DD-302)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Stoddert (DD-302)
Tàu khu trục USS Stoddert (DD-302)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Stoddert (DD-302)
Đặt tên theo: Benjamin Stoddert
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 4 tháng 7, 1918
Hạ thủy: 8 tháng 1, 1919
Đỡ đầu bởi: bà Gavin McNab
Nhập biên chế: 30 tháng 6, 1920
Tái biên chế: 6 tháng 4, 1931
Xuất biên chế: 20 tháng 5, 1930
10 tháng 1, 1933
Xếp lớp lại: AG-18, 30 tháng 6, 1931
DD-302, 16 tháng 4, 1932
Xóa đăng bạ: 5 tháng 6, 1935
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 8, 1935
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
130 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Stoddert (DD-302/AG-18) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Benjamin Stoddert (1744-1813), Bộ trưởng Hải quân đầu tiên của Hoa Kỳ. Do quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London năm 1930, Stoddert được xếp lại lớp như một tàu phụ trợ AG-18 trước khi ngừng hoạt động năm 1933 và bị tháo dỡ năm 1935.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Stoddert được đặt lườn vào ngày 4 tháng 7, 1918 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 1, 1919, được đỡ đầu bởi bà Gavin McNab; và được đưa ra hoạt động vào ngày 30 tháng 6, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Norman Scott.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Stoddert gia nhập Đội khu trục 33 trực thuộc Hải đội Khu trục Dự bị, Hạm đội Thái Bình Dương, và hoàn tất việc trang bị tại Xưởng hải quân Mare Island. Từ ngày 14 tháng 8, 1920 đến ngày 7 tháng 1, 1921, nó hoạt động dọc theo bờ biển California, tham gia các cuộc thực tập chiến thuật cùng Hải đội Thiết giáp 5 và tàu tuần dương hạng nhẹ Birmingham (CL-2). Nó cũng tham gia thực hành phòng không, kéo mục tiêu và thực tập tác xạ cùng đội của nó ngoài khơi đảo Coronado. Vào ngày 7 tháng 1, 1921, nó rời San Diego, California cùng Hạm đội Thái Bình Dương để tham gia cùng Hạm đội Thái Bình Dương tại vùng kênh đào Panama cho đợt cơ động hạm đội mùa Đông xa hơn về phía Nam. Từ ngày 22 tháng 1 đến ngày 15 tháng 2, các hạm đội phối hợp đã thực hành tác xạ, chiến thuật và chiến lược trong một chuyến đi đến Valparaíso, Chile và quay trở lại Panama. Sau các cuộc thi đua giữa các hạm đội tại Balboa, chiếc tàu khu trục hướng lên phía Bắc, về đến San Diego vào ngày 5 tháng 3, nơi nó tiếp nối các hoạt động thường lệ cùng Đội khu trục 33.

Trong tháng 7, Stoddert đi xa hơn lên phía Bắc, đến Washington, nơi nó thực hành cùng tàu chị em Kennedy (DD-306). Sau các cuộc cơ động ngoài khơi bờ biển Oregon và California, nó đi vào Xưởng hải quân Puget Sound vào ngày 15 tháng 12; hoàn tất việc đại tu vào ngày 7 tháng 2, 1922, rồi gia nhập Đội khu trục 32 ba ngày sau đó để tiếp nối các hoạt động dọc theo vùng bờ Tây. Đi về phía Nam cùng Hạm đội Chiến trận vào ngày 8 tháng 2, 1923, nó tham gia các cuộc cơ động trên đường đi, và đi đến vùng kênh đào Panama tham gia cuộc tập trận hạm đội nhằm thử nghiệm khả năng phòng thủ con đường chiến lược này. Trong khi ở lại vùng kênh đào trong tháng 3, hạm đội đã tiến hành các cuộc cơ động phối hợp chiến thuật và chiến lược, thực hành ngư lôi thử nghiệm, tiến hành những cuộc tác xạ thử nghiệm mà cuối cùng đã đánh chìm chiếc Hải Phòng Hạm số 4, nguyên là chiếc thiết giáp hạm tiền-dreadnought Iowa. Sau khi kết thúc cuộc tập trận vào ngày 30 tháng 3, chiếc tàu khu trục quay trở về Xưởng hải quân Bremerton vào ngày 22 tháng 4.

Chiếc tàu khu trục tuần tra dọc bờ biển Washington cho đến cuối tháng 8, ghé thăm Astoria, Tacoma, Seattle, Bellingham, Port AngelesPort Townsend. Vào tháng 7, nó hộ tống chiếc Henderson (AP-1), có Tổng thống Warren G. Harding trên tàu. Sang tháng 9, nó đi về phía Nam đến cảng San Diego, nơi các tàu khu trục trong đội của nó hình thành một vòng tròn và rải hoa xuống biển để tưởng niệm những người thiệt mạng trong Thảm họa Honda Point. Từ ngày 22 tháng 10, 1923 đến ngày 2 tháng 1, 1924, Stoddert tham gia cuộc cơ động hạm đội và thực tập ngư lôi tại San Diego, rồi lên đường đi về phía Nam vào ngày 16 tháng 1. Băng qua kênh đào Panama cùng với Hạm đội Chiến trận từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 1, nó tham gia cùng Hạm đội Tuần Tiễu trong các cuộc cơ động nhằm trắc nghiệm khả năng phòng thủ và các cơ sở căn cứ của vùng kênh đào. Trong mùa Đông, hạm đội phối hợp đặt căn cứ tại Culebra, và vào ngày 22 tháng 4, 1924, chiếc tàu khu trục quay trở về San Diego cùng Hạm đội Chiến trận.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bộ sưu tập hình ảnh của Stoddert tại NavSource Naval History
  • "Crewless Boat, Run By Radio, Performs New Feats", Ocyober 1931, Popular Science]