USS Brooks (DD-232)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Brooks (DD-232) underway during trials in 1920.jpg
Tàu khu trục USS Brooks (DD-232) trên đường đi chạy thử máy, 1920
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Brooks (DD-232)
Đặt tên theo: John Brooks, Jr.
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding
Đặt lườn: 11 tháng 6, 1918
Hạ thủy: 24 tháng 4, 1919
Đỡ đầu bởi: bà George S. Keyes
Nhập biên chế: 18 tháng 6, 1920
Tái biên chế: 18 tháng 6, 1932;
25 tháng 4, 1939
Xuất biên chế: 20 tháng 1, 1931;
2 tháng 9, 1938;
2 tháng 8, 1945
Xếp lớp lại: APD-10, 1 tháng 12, 1942
Xóa đăng bạ: 17 tháng 9, 1945
Danh hiệu và
phong tặng:
6 × Ngôi sao Chiến trận; Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân
Số phận: Bán để tháo dỡ, 30 tháng 1, 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
130 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Brooks (DD-232) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, đã tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, được cải biến thành một tàu vận chuyển cao tốc với ký hiệu lườn APD-10, và hoạt động cho đến khi xung đột kết thúc. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Trung úy Hải quân John Brooks, Jr. (1783-1813), người tử trận trong cuộc Chiến tranh 1812.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Brooks được đặt lườn vào ngày 11 tháng 6, 1918 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Company. Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 4, 1919, được đỡ đầu bởi bà George S. Keyes, cháu Trung úy Brooks; và được đưa ra hoạt động vào ngày 18 tháng 6, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân D. M. Dalton.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Brooks rời Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 26 tháng 8, 1920 để đi sang vùng biển Châu Âu. Nó thoạt tiên được phân công nhiệm vụ tuần tra tại biển Baltic trong một thời gian ngắn, và sau đó tham gia Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại vùng biển Adriatic trước khi được điều sang lực lượng tại vùng biển Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 6, 1921. Nó lên đường quay trở về Hoa Kỳ vào ngày 26 tháng 9, 1921 và về đến thành phố New York vào ngày 19 tháng 10. Sau đó nó được phân về Hạm đội Tuần tiễu, và đã tham gia các cuộc cơ động tại vùng biển Caribe, Đại Tây DươngThái Bình Dương cho đến khi được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 20 tháng 1, 1931.

Brooks được cho nhập biên chế trở lại tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 18 tháng 6, 1932 và gia nhập Lực lượng Tuần tiễu. Nó tham gia các hoạt động hạm đội tại cả hai phía bờ biển cho đến khi được đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia vào ngày 2 tháng 9, 1938. Nó nhập biên chế trở lại vào ngày 25 tháng 4, 1939 và được phân vai trò Tuần tra Trung lập tại khu vực bờ biển Đại Tây Dương, cho đến khi được điều sang lực lượng phòng vệ trực thuộc Quân khu Hải quân 13 vào tháng 11, 1940. Nó hoạt động cùng lực lượng này cho đến khi Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Thế Chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vai trò một tàu tuần tra và hộ tống, phạm vi hoạt động của Brooks trải rộng từ California đến WashingtonAlaska trong năm đầu tiên của Thế Chiến II. Nó đi đến Seattle, Washington vào ngày 20 tháng 9, 1942 để được cải biến thành một tàu vận chuyển cao tốc, và đến ngày 1 tháng 12, 1942 được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới APD-10, rồi được điều về khu vực Nam Thái Bình Dương.

Nó phục vụ như một tàu vận chuyển và quét mìn trong các cuộc đổ bộ tại: Lae, New Guinea từ ngày 4 đến ngày 14 tháng 9, 1943; Finschhafen, New Guinea từ ngày 22 đến ngày 30 tháng 9; mũi Gloucester, New Britain từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 12; Saidor, New Guinea từ ngày 2 tháng 1 đến ngày 17 tháng 2, 1944; quần đảo Admiralty từ ngày 29 tháng 2 đến ngày 19 tháng 3; Hollandia, New Guinea từ ngày 22 đến ngày 28 tháng 4; chiếm đóng Saipan từ ngày 14 đến ngày 22 tháng 6; chiếm đóng Leyte từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12; chiếm đóng Mindoro từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 12; và đổ bộ lên vịnh Lingayen, Luzon từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 1, 1945.

Tại Luzon vào ngày 6 tháng 1, 1945, một máy bay tấn công cảm tử kamikaze Nhật Bản đã đâm vào mạn trái của Brooks, gây một đám cháy lớn giữa tàu. Ống dẫn hơi nước chính và phụ đều bị hư hỏng; vỡ van dẫn nước đến buồng ngưng tụ khiến phòng động cơ phía trước bị ngập nước. Ba thành viên thủy thủ đoàn của Brooks thiệt mạng cùng 11 người khác bị thương. Nó được chiếc Watch Hill kéo quay trở về San Pedro, California, và được cho ngừng hoạt động tại đây vào ngày 2 tháng 8, 1945. Lườn tàu của Brooks bị bán để tháo dỡ vào ngày 30 tháng 1, 1946.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Brooks được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân cùng sáu Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]