USS Paul Hamilton (DD-307)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Paul Hamilton (DD-307)
Tàu khu trục USS Paul Hamilton (DD-307)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Paul Hamilton (DD-307)
Đặt tên theo: Paul Hamilton
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 25 tháng 9, 1918
Hạ thủy: 21 tháng 2, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Justin McGrath
Nhập biên chế: 24 tháng 9, 1920
Xuất biên chế: 20 tháng 1, 1930
Xóa đăng bạ: 8 tháng 7, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
128 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Paul Hamilton (DD-307) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Bộ trưởng Hải quân Paul Hamilton (1762-1819). Paul Hamilton ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Paul Hamilton được đặt lườn vào ngày 25 tháng 9, 1918 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 2, 1919, được đỡ đầu bởi cô Justin McGrath; và được đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 9, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân J. F. McClain.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy tại vùng biển California, Paul Hamilton được phân về Đội khu trục 33 thuộc Hải đội 6, Chi hạm đội 2 của Lực lượng Khu trục Hạm đội Thái Bình Dương, đặt căn cứ tại San Diego, California. Nó hoạt động cùng Hạm đội Chiến trận Thái Bình Dương từ năm 1920 đến đầu năm 1930.

Paul Hamilton được cho xuất biên chế vào ngày 20 tháng 1, 1930 và bị tháo dỡ vào năm 1931 nhằm tuân thủ các điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]