USS Farquhar (DD-304)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Farquhar (DD-304)
Tàu khu trục USS Farquhar (DD-304)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Farquhar (DD-304)
Đặt tên theo: Norman von Heldreich Farquhar
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 13 tháng 8, 1918
Hạ thủy: 18 tháng 1, 1919
Đỡ đầu bởi: bà J. Reed
Nhập biên chế: 5 tháng 8, 1920
Xuất biên chế: 20 tháng 2, 1930
Xóa đăng bạ: 18 tháng 11, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 23 tháng 4, 1932
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Farquhar (DD-304) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc Norman von Heldreich Farquhar (1840-1907), người từng tham gia cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Farquhar ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1932 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Farquhar được đặt lườn vào ngày 13 tháng 8, 1918 tại xưởng tàu Union Iron Works, của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 1, 1919, được đỡ đầu bởi bà J. Reed; và được đưa ra hoạt động vào ngày 5 tháng 8, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân R. A. Hall.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Farquhar đi đến cảng nhà của nó tại San Diego, California vào ngày 26 tháng 8, 1920, và được phân về Hạm đội Thái Bình Dương. Nó tham gia hoạt động huấn luyện, cơ động và tập trận dọc theo vùng bờ Tây Hoa Kỳ, trải dài từ Washington đến vùng kênh đào Panama. Vào tháng 8, 1921, nó đã cứu vớt 42 hành khách từ chiếc SS San Jose bị đắm ngoài khơi bờ biển Mexico. Vào các năm 19241927, nó tham gia các cuộc tập trung hạm đội tại vùng biển Caribe, và trong chuyến đi thứ hai đã đi lên phía Bắc để viếng thăm New York, Newport, Rhode IslandNorfolk trước khi quay trở về San Diego.

Farquhar lên đường đi sang vùng quần đảo Hawaii vào tháng 4, 1925 để thực tập cơ động, và đã tham gia một lực lượng hải quân lớn cho một chuyến đi viếng thăm Samoa, AustraliaNew Zealand trước khi quay trở về vùng bờ Tây vào tháng 9. Từ tháng 4 đến tháng 6, 1928, nó lại đi đến khu vực Hawaii cho đợt thực hành cùng toàn thể Hạm đội Chiến trận. Nó đưa các quân nhân dự bị trong chuyến đi huấn luyện vào tháng 7, 1929, và sang tháng sau bắt đầu chuẩn bị để ngừng hoạt động tại San Diego.

Farquhar được cho xuất biên chế vào ngày 20 tháng 2, 1930, và sau khi được tạm thời sử dụng như một tàu trại binh cho các tàu ngầm, nó bị tháo dỡ nhằm tuân thủ các điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London. Vật liệu tháo dỡ được đem bán vào ngày 23 tháng 4, 1932.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]