USS Percival (DD-298)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Percival
Tàu khu trục USS Percival (DD-298)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Percival (DD-298)
Đặt tên theo: John Percival
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 4 tháng 7, 1918
Hạ thủy: 5 tháng 12, 1918
Đỡ đầu bởi: cô Eleanor Wartsbaugh
Nhập biên chế: 1 tháng 3, 1920
Xuất biên chế: 26 tháng 4, 1930
Xóa đăng bạ: 18 tháng 11, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
128 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Percival (DD-298) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Đại tá Hải quân John Percival (1779-1862), người tham gia cuộc Chiến tranh 1812Chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ. Percival ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Percival được đặt lườn vào ngày 4 tháng 7, 1918 tại xưởng tàu Union Iron Works, của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 5 tháng 12, 1918, được đỡ đầu bởi cô Eleanor Wartsbaugh; và được đưa ra hoạt động vào ngày 1 tháng 3, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Raymond A. Spruance.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy ngoài khơi bờ biển California, Percival trình diện để hoạt động cùng Hải đội 4 thuộc Chi hạm đội 5, Lực lượng Khu trục Hạm đội Thái Bình Dương đặt căn cứ tại San Diego, California. Vào ngày 8 tháng 9, 1923, nó nằm trong nhóm tàu khu trục mắc phải thảm họa Honda Point, nhưng nó đã cơ động né tránh được và không chịu số phận bị mắc cạn do va đá ngầm của các tàu chị em. Vài ngày sau, nó được đặt làm soái hạm của Hải đội 11 và được bố trí tham gia tập trận hạm đội hàng năm cùng Hạm đội Chiến trận tại Thái Bình Dương.

Percival được cho xuất biên chế vào ngày 26 tháng 4, 1930 và bị tháo dỡ vào năm 1931.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]